Người yêu của Thúy Kiều?

Người yêu ca Thúy Kiu? 

                                                 Thái Chinh Nguyn kim Loan 

         Thúy Kiều là nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết viết bằng thơ Nôm của Nguyễn Du (Tố Như tiên sinh). Tên của danh tác được quảng đại quần chúng biết đến là Truyện Kiều.

Nguyễn Du tự là Tố Như, quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhân đi sứ sang Tàu, đọc tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, Tố Như tiên sinh viết lại bằng thơ tiếng Việt.

Qua thể thơ lục bát, thiên tài thơ nôm Tố Như kể cuộc đời bảy nổi ba chìm của Vương Thúy Kiều, một thiếu nữ kín-cổng-cao-tường, tài sắc vẹn toàn; một tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, vì cha bị hàm oan, muốn cứu cha khỏi tù tội mà phải ‘bán mình’, về làm vợ một kẻ xa lạ. Có ngờ đâu đó là con đường bắt đầu một cuộc đời phong-trần, hai lần rơi vào chốn thanh lâu.

Theo Trần Lam Giang, một cựu sinh viên Văn Khoa Saigon, so sánh văn phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (người Tàu) và thi phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du thì có một điểm khác nhau trong chuyện tình Kim Trọng, Thúy Kiều

Với ngòi bút của văn nhân Tàu Thanh Tâm Tài Nhân, sau mười lăm năm xa cách, Kim Trọng gặp lại Thúy Kiều, cả hai an vui hạnh phúc trong vòng ân ái, hương lửa thắm thiết của phu-thê-hợp-nhất. Nhưng, dưới ngòi bút của thi nhân Việt Nguyễn Du, sau mười lăm năm luân lạc truân chuyên của Thúy Kiều, cả hai đã đồng ý cùng nhau dừng lại, đứng lại ở ranh giới của tình bạn trong đêm đầu tiên của tình chồng vợ gối-chăn.

Tại sao mối tình Kim, Kiều thủa ban đầu rất đẹp mà phải kết thúc bằng tình bạn thoang thoảng hương ân ái xa xa; ảo tưởng ái ân chỉ có thể nhạt nhoà từ cõi quá khứ thậm thâm sâu thẳm lãng đãng trở về? Một thứ tình bạn kỳ lạ đêm ngày được đặt nằm hớ hênh trên giường ngủ của đôi vợ chồng hãy còn son trẻ mà vẫn không bị hơi hướng thịt-da làm thay màu đổi dạng?

Tại sao Tố Như tiên sinh muốn Kim Trọng, Thúy Kiều phải như thế? Tiên Điền tiên sinh gửi gấm ý nghĩ gì, tình cảm gì trong tác phẩm của ông? Dường như đối với sự phải lấy nhau như đã hẹn ước mười lăm năm trước của Kim-Kiều, cái chất Tàu trong tình cảm thực tế của giống dân du mục hiếu chiến phương Bắc được Nguyễn Du chuyển đổi thành tình cảm đẹp thâm trầm sâu-sắc của giống nòi Việt hiền hòa định cư ở phương Nam.

Ai là người-đi-qua-đời của Thúy Kiều và được Người Đẹp tài hoa, một giai nhân sắc-nước-hương-trời, yêu cho đến hơi thở cuối cùng? Phải chăng là Kim Trọng, người tình của Kiều khi nàng hãy còn là một thiếu nữ ngây thơ trong trắng? Tại sao gặp lại Kim Trọng, và đêm tân hôn, Thúy Kiều lại từ chối ái ân với chồng mặc dù đám cưới của hai người có đầy đủ lễ nghi và có sự thuận tình hoan-hỷ của toàn gia tộc?

Nhân lễ Thanh Minh, ngày lễ Tảo Mộ, ba chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan đi thăm viếng mộ phần thì gặp Kim Trọng. Thúy Kiều là thiếu nữ khoảng gần mười lăm tính theo tuổi âm-lịch bởi vì xuân xanh của Kiều sp s ti tun cp kê. “Kê” là cái trâm mà con gái Tàu ở tuổi mười lăm dùng cài tóc để chứng tỏ rằng mình đã thành nhân, thành người lớn hay đến tuổi lấy chồng. Tính theo tuổi dương-lịch, Kiều chỉ gần mười bốn mà thôi. Vương Quan là con trai út trong gia đình có ba người con, nhiều lắm thì Vương Quan chỉ khoảng gần mười hai tuổi tây. Kim Trọng vi Vương Quan trước vn là đồng thân.“Đồng thân” hay đồng song có nghĩa là chung cửa sổ, theo nghĩa bóng, tức bạn học với nhau; Vương Quan tuổi độ gần mười hai tuổi-tây và là bạn học của Kim Trọng từ trước đến bây giờ, thế thì chẳng lẽ Kim Trọng sấp sỉ bằng tuổi Vương Quan và nhỏ tuổi hơn Thúy Kiều. Nghĩa là thiếu niên gần mười hai tuổi yêu thiếu nữ gần mười bốn tuổi. Tình yêu bất chấp tất cả, và có thể đến rất sớm hay đến rất muộn. Thực sự, người đọc không để ý tuổi tác gì cả ngoài việc cảm kích tình cảm của hai trẻ đắm đuối yêu nhau chân thật. Nhưng, nếu Kim Trọng lớn tuổi hơn, hay bằng tuổi Thúy Kiều, chẳng lẽ Kim Trọng là đứa học dốt, ngồi cùng lớp với em út của người mình yêu?

Con người và gia thế Kim Trọng như thế nào?

Kim Trọng vốn nhà trâm anh (Trâm là cái trâm cài mũ, anh là giải mũ). Ngày xưa bên Tàu, thường dân, người nghèo không được phép đội mũ. Gia thế chàng Kim giầu sang, danh giá, nhiều người có tiếng học giỏi (Nn phúc hu, bc tài danh). Cha ông và ngay cả Kim Trọng đều thông minh nổi tiếng từ bé, thiên về văn chương thơ phú (Văn chương nết đất, thông minh tính tri). Là một thư sinh đẹp trai, phong cách Kim Trọng rất nho nhã, phóng khoáng rộng rãi đối với mọi người (Phong tư tài mo tuyt vi. Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa).

Một người thông minh như thế thì không thể nào học dốt, lý do chàng Kim là bạn học với em út của Thúy Kiều chỉ vì chàng là một công tử ham chơi, chểnh mảng việc bút nghiên, chú ý tới những người đẹp trong vùng (Vn nghe thơm nc hương lân. Mt nn Đồng-tước khoá xuân hai Kiu). Có lẽ tuổi của Kim Trọng khoảng bằng Thúy Kiều, gần mười lăm tuổi ta, hay hơn một vài năm. Tính theo tuổi tây, đây là mối tình đầu của cô bé gần mười bốn tuổi với cậu trai trạc tuổi mình; tình ngây thơ trong-sáng, phảng phất màu sắc ngơ ngẩn ngây-thơ của tuổi mới lớn dại khờ. Có ai không mỉm cười tự hào rằng trong đời mình có mối tình-đầu đẹp không? Có lẽ vì lòng tự hào mà tình đầu có đất đứng trăm-năm vững chắc trong trái tim của con người. Phải chăng sau mười lăm năm luân-lạc và hai lần rơi vào thân phận gái làng chơi, Kiều sợ rằng chuyện ân ái với Kim Trọng làm tan biến cái đẹp của tình trong-trắng ngày xưa, làm sụp đổ lòng tự hào của người tình cũ, làm phai nhạt cảm giác rạo-rực âu yếm hướng về kỷ niệm đẹp vô vàn của quá khứ xa xôi?

Kim Trọng, chồng của Thúy Vân, là mối tình đầu của Thúy Kiều. Đây là tình chị, duyên em. Nhân gian có câu “tình cũ không rủ cũng tới”. Khi Thúy Vân thiết tha nhắc nhở chị của nàng rằng cuộc gặp gỡ của chồng và Kiều, trước kia và bây giờ là duyên do Trời định, vầng trăng chứng kiến lời thề của hai người còn đó; thì Kiều gạt đi, không muốn ai nói đến năm tháng mưa-gió đã qua cũng như những kỷ niệm trong-sáng của thời xuân trẻ.

Cố gắng thuyết phục cho chị vợ bằng lòng lấy mình, Kim Trọng tiếp lời vợ. Chàng Kim nói với Kiều: lời thề sống có nhau và chết bên nhau, lời thề ấy Trời Đất đã chứng giám cho nên số mệnh không phụ tình yêu đắm đuối thủy chung của hai người; duyên phận đã cho gặp lại nhau, tại sao Kiều muốn chẻ gánh chung tình của hai người làm đôi?

Kiều trả lời, vợ chồng âu yếm ân ái với nhau trong đêm động phòng hoa chúc thì chữ trinh của người thiếu nữ là hoa thơm còn phong kín nhụy, là vầng trăng sáng của đêm rằm; nay gió mưa tanh-tưởi đã bao lần vùi dập khiến hoa tàn, trăng khuyết thì nàng sẽ xấu hổ biết bao khi nhìn đuốc hoa của đêm tân hôn. Gạt bỏ lý lẽ của Kiều, chàng Kim cho rằng chữ trinh theo nàng hiểu là chữ trinh trong hoàn cảnh bình thường, yên ổn; khi gia đình gặp tai biến, Kiều đã hy sinh chữ trinh đối với người yêu để trọn chữ hiếu đối với đấng sinh thành, thì không có thứ bụi nào có thể làm vẩn đục tấm lòng trong sáng, trinh tiết của nàng. Để chinh phục tình cảm của Thúy Kiều, Kim Trọng trách Kiều sao nàng nghi ngờ chàng giống Tiêu Lang, lạnh lùng bạc bẽo với người vợ đáng thương (vợ của Tiêu Lang là Lục Châu bị bắt, bị đem dâng cho Quách Từ Nghi; từ đó trông thấy vợ, Tiêu Lang dửng dưng như khách qua đường).

Bị sức ép từ những lời khuyên nhủ của cha mẹ, sự chân thành bày tỏ nỗi lòng của em gái và tình cảm thiết tha của chàng Kim, Thúy Kiều bằng lòng lấy Kim Trọng.

Nhưng trong đêm tân hôn, Kiều thẳng thắn từ chối gần gủi với chồng.

Đêm tân hôn, Thúy Kiều cùng chồng uống rượu hợp cẩn trong phòng riêng. Nàng bâng khuâng, hơi ngơ ngẩn trước duyên mới đến vội, và ngậm ngùi luyến nhớ ngày mới gặp nhau hai người còn trẻ, rất trẻ. Từ ngày mái tóc của Kiều sửa soạn cài trâm (Kiều gần 15 tuổi) và sau mười lăm năm luân lạc, chắc chắn tuổi của Kiều không ngoài ba mươi. Thế nên, khi đêm đã khuya, hai vợ chồng thôi trò chuyện, buông màn gấm rủ xuống, vào giường nằm, Kim Trọng thấy mùa xuân còn tỏ rạng rỡ ngời-sáng trên má đào của vợ dưới đuốc hoa. Xúc động, chàng Kim sữa soạn làm những gì mà người đàn ông phải làm như con ong phải hút nhụy hoa cho thuận với lẽ tự nhiên của đất trời giao hoà  (Hoa xưa ong cũ, my phân chung tình). Nàng Kiều ngăn lại, giữ Kim Trọng ở giới hạn của âu-yếm-vành-ngoài. Thúy Kiều từ chối chiều chồng.

Kiều bảo Kim Trọng rằng nàng không tha thiết chuyện hôn nhân khi nhận lời làm vợ chàng (Chiu lòng gi có xướng tùy my may); mặt nàng đã dày dạn ở chốn thanh lâu, nếu như chàng chỉ âu yếm “vành ngoài” thì nàng còn có thể mở mặt với người (Nhng như âu yếm vành ngoài. Còn toan m mt vi người cho qua). Nếu âu yếm vượt qua giới hạn của vành ngoài thì một ngày kia chàng cũng giống thói tầm thường của người ta, không ngần ngại thốt lời bạc bẽo phủ-phàng, coi nàng như đóa hoa héo úa đã tàn rụng thảm thương dưới đất (Li như nhng thói người ta. Vt hương dưới đất, b hoa cui mùa). Và biết đâu chàng dở chứng, bày ra lắm trò tàn nhẫn mà chàng vô tình không nhận ra là quá tàn nhẫn với người mình yêu. Yêu nhau sẽ cay đắng bằng mười lần phụ nhau và tình yêu trở thành oán hận (Khéo thay d duc bày trò. Còn tình đâu na, là thù, đấy thôi! Người yêu ta xu vi người. Yêu nhau thì li bng mười ph nhau). Nếu như chàng muốn có con nối dõi thì đã có Thúy Vân (Ca nhà du tính v sau. Thì đà em đó, la cu ch đây).

Tiếp theo những lời lẽ trên của Thúy Kiều, Tố Như tiên sinh cho nàng Kiều thốt ra vài câu khó hiểu về chữ trinh:

Ch trinh còn mt chút này.

                    Chng cm cho vng li giày cho tan,

                           Còn nhiu ân ái chan chan,

                     Hay gì vy cánh hoa tàn mà chơi!

    Thúy Kiều cho rằng mình còn một chút trinh, và bảo Kim Trọng sao không cầm cho vững, mà lại định giày vò cho tan biến đi. Ái ân thì còn nhiều ân ái lắm với người vợ trẻ là Thúy Vân, hay gì vầy vò cánh hoa tàn như nàng.

Với những chữ như “vầy”, “chơi”, người đọc không thể không ngạc nhiên khi Kiều nghĩ ân ái với chồng thì không khác gì việc nàng phải chịu vầy vò khi ái ân với khách mua hoa ở chốn thanh lâu.

Chữ trinh ở đây có ý nghĩa gì?

Theo quan niệm thông thường, “trinh” có nghĩa là còn tân, chưa lần nào giao hợp với đàn ông.

Lúc hai người mới gặp lại nhau, với sự vui vẻ thuận lòng của Thúy Vân, Kim Trọng khao khát Thúy Kiều bằng lòng lấy mình; vì vậy chàng Kim cố gắng thuyết phục Kiều bằng những lời như thể chàng rất trân quý quyết định của Kiều. Quyết định ‘bán mình chuộc cha’, với Kim Trọng, có nghĩa là Kiều bán mất cái trinh tiết của chính mình đối với người yêu để lấy tiền chuộc cha:

Như nàng ly hiếu làm trinh

                 Bi nào cho đục được mình y vay?

  Kim Trọng đã nghĩ rất đẹp cho sự mất trinh của người yêu một cách vô cùng gượng ép, vụng về. Nếu trinh được hiểu theo nghĩa thông thường thì hiếu và trinh ở hai lĩnh vực khác hẳn nhau. Và, Kiều không giữ tròn trinh tiết đối với người đã từng thề non hẹn biển để trọn chữ hiếu, thì ‘bán mình’, bán trinh tiết chỉ là phương tiện để hoàn tất mục đích ‘chuộc cha’. Hiếu là mục đích, bán-trinh là phương tiện, không thể nào lấy mục đích làm phương tiện được.

Dù có nghĩ đẹp cho Kiều đến thế nào đi nữa thì qua lời nói, Kim Trọng kín đáo công nhận một sự thực không thể chối cải là Kiều đã mất trinh đối với riêng chàng. Vậy thì, còn chút trinh nào mà Kiều bảo Kim Trọng cầm cho vững, đừng vầy cho tan?

Có phải một chút trinh là một chút hiếu vâng-lời-cha-mẹ? Vâng lời cha mẹ để trở thành vợ Kim Trọng và từ chối ái ân với chồng bởi vì Kiều muốn chứng tỏ mình không phải là kẻ ưa thích chuyện sáng đi với người này, tối đi với người khác:

Cho hay thc n chí cao 

Phi người sm mn ti đào như ai

Có phải Kiều suy tính là, lấy Kim Trọng mà chỉ âu yếm vành ngoài thì vừa có danh nghĩa vợ chồng vừa được tình bạn bền vững cả đời.

 Hai tình vn c hoà hai

                 Chng trong chăn gi, cũng ngoài cm thơ.

Có phải Thúy Kiều nhận ra rằng ở tuổi xấp sỉ ba mươi, tuy nhan sắc không thay đổi mấy (Dung quang chng khác chi ngày bước ra), nhưng xét mình “ong qua bướm li đã tha xu xa”, Kiều khuyên người yêu nên nghĩ đến tình xưa-cũ, giữ gìn cái đẹp của nó mà đổi duyên đôi-lứa thành duyên bạn-bè.

Dường như trong lòng Thúy Kiều, một-chút-trinh-còn-lại có nghĩa là một chút hương thơm rơi rớt lại của tâm hồn ngây thơ và thể chất trong trắng của mối tình đầu.

Thế nhưng, dù chữ trinh được hiểu theo khía cạnh nào, nó vẫn mang nét thần bí dưới ngòi bút của Tố Như, bởi vì nó ẩn giấu một điều gì đó mà Nguyễn Du không thể thẳng thắn phơi bày.

Tại sao Kim Trọng chỉ âu yếm vành ngoài thôi thì Kiều còn có thể mở mặt với người, nhìn mặt “người” mà không lấy làm hổ thẹn?

Nhng như âu yếm vành ngoài.

                      Còn toan m mt vi người cho qua

“Người”  ở đây là ai? Sau đêm tân hôn Kim Trọng nói rõ cho những người thân biết ý muốn của Kiều thì cả nhà khen ngợi nàng. Điều này người đọc có thể hiểu và chấp nhận.

Nhưng chẳng lẽ nhờ Kim Trọng đồng ý với Kiều về việc ‘giới nghiêm’ chuyện chăn-gối (La là chăn gi mi ra st cm) mà Kiều giữ được danh tiết một đời:

Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay

Nếu Nguyễn Du cho Thúy Kiều giữ danh tiết trăm-năm với chồng bằng cách bắt Kim Trọng phải đứng sững mãi mãi ở ranh giới âu yếm vành ngoài, phải thường xuyên kìm hãm lực đòi hỏi thúc bách ghê gớm của những tế bào sâu kín nhất của xác thịt khi thân thể của một phụ nữ quốc-sắc-thiên-hương còn mơn-mởn tình Xuân (Dày dày sn đúc mt toà thiên nhiên: thân thể của Thúy Kiều đẹp như một pho tượng toàn hảo) cứ thấp thoáng qua gấm vóc mượt-mà ngay trước mắt, thì quả thật Nguyễn Du đã sáng tạo một màn hài kịch về tình bạn quá dài thời gian.

Khi Kiều từ chối sự đòi hỏi của chồng trong đêm tân hôn, Kim Trọng phải tìm lời lẽ lảng ra để che giấu nỗi hổ thẹn của người đàn ông. Chàng Kim nói rằng: Đã cùng nhau nặng lời thề, bởi lỡ duyên nên mỗi người mỗi ngã, nay gặp nhau chỉ có việc yêu nhau mặn nồng quấn-quít, gắn bó thắm-thiết mới tỏ lòng của nhau. Nàng hãy còn xuân, những tưởng nàng chưa thoát khỏi vòng trai gái ái-ân. Bây giờ hiểu rõ ý nàng muốn tình yêu như tấm gương trong chẳng vướng bụi trần thì thật là muôn phần kính yêu nàng thêm. Bao năm đi tìm nàng chẳng phải vì ham hố chuyện chăn-gối trăng hoa mà chỉ vì lời thề nguyền vàng đá khi xưa. Được xum họp dưới một mái nhà, cứ gì phải ăn nằm với nhau mới là vợ chồng.

Đáp lời chồng, Kiều nói rằng: Xin cảm tạ đất trời. Nhờ tâm của chàng khác tâm của thiên hạ mà tấm thân tàn này được gạn hết bùn đục, được khơi cho nước trong lên. Và vì đêm nay chỉ có âu yếm vành ngoài mà thôi nên danh tiết một đời không mất.

Lời lẽ của Kim Trọng chỉ là lời lẽ tầm thường của một người đàn ông cố gắng làm đẹp lòng vợ cho trong ấm ngoài êm.

Ngẫm nghĩ những câu nói của Thúy Kiều, người đọc không thể không thấy có điều gì u-uẩn trong tâm sự của nàng.

Một nỗi uẩn-khúc man mác phảng phất qua những câu: Ch trinh còn mt chút này, chng cm cho vng li giy cho tan. Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay.

Phải chăng đối với Nguyễn Du, một thiên tài văn-chương đất Việt, chữ trinh hay danh tiết của người đàn bà có nghĩa là lòng chân thành tuyệt đối với chính mình và với người mà mình yêu thắm thiết? Và như thế, Tố Như tiên sinh đã tháo gỡ tất cả mùi vật chất xác-thịt nặng nề vị tham lam, ích-kỷ và sân-si mà người Tàu đem gói chặt chữ trinh để cho chữ trinh tự do bay bổng trong cõi rờ rỡ ngời sáng của như thật như chân, cõi của tâm, cõi của tinh thần tự do chân thực với chính mình và với người.

Phải chăng ý nghĩa như-thật-như-chân là màu sắc nhân chủ, tự do của chữ trinh và đây là một trong những sắc thái cao thượng, bao dung, hài hòa của giống nòi Việt?

Sau mười lăm năm luân lạc đoạn-trường và sau hai lần tự tử, hai lần đứng ở bờ mé tử-sinh, Thúy Kiều yêu ai cho đến hơi thở cuối cùng?

*

*                *

Tuổi xấp xỉ mười lăm (tuổi ta), Kiều yêu Kim Trọng, yêu với tất cả lòng thành thực với chính mình và với người mình yêu. Mười lăm năm sau gặp lại cố nhân, tình yêu năm xưa không còn nữa. Nếu chuyện ân ái chỉ thuần túy với mục đích cao quý là hai xác thịt giao hợp nhau để dòng sống tiếp nối thì đã có Thúy Vân. Có lẽ đối với Kiều, việc ái ân với người mà nàng đã yêu rồi không còn yêu nữa thì không thấp kém như sự giao cấu của loài động vật không phải là người; ân ái dẫu do dục tình thấp kém thôi thúc vẫn mang tính chất thiêng liêng của con người bởi vì con người ai cũng có Trí Lương Tri. Thế nhưng, không có mục đích cao đẹp hay thiếu vắng tình yêu, việc ân ái trở thành sự tìm kiếm cái sướng cho xác thân, xác thân của con người chịu đựng quá nhiều cái khổ vì phải lao lực vất-vả mới có miếng ăn. Ân ái như thế sẽ để lại cho Kiều sự chới với trống-rỗng, cảm giác mất tự trọng tự tin; và như thế, ái ân có khác gì việc dùng xác thịt nàng làm thú vui của khách làng chơi. Cho nên, Kiều không ngần ngại nói thẳng với Kim Trọng: Hay gì vy cánh hoa tàn mà chơi.

Xuyên qua bóng tối của quá khứ xa xăm, thỉnh thoảng vẫn rực lên trong lòng Kiều một tia sáng đẹp của hình ảnh chàng thư sinh họ Kim nho nhã, yếu đuối ngồi trên con ngựa còn non, trắng như tuyết. Và lục tìm trong quá khứ, Kiều chỉ thấy một thiếu niên say mê nhan sắc và tiếng đàn của nàng đến độ chàng “ra chiều lả lơi”. Ngày xưa các thiếu nữ Tàu ở giai cấp trung lưu và thượng lưu bị giữ gìn nghiêm ngặt, gắt gao trong phòng khuê, con người lãng mạn tài hoa của Kiều may mắn có cơ hội  được trải nghiệm những giây phút rung động xao xuyến diệu-kỳ của tình cảm trai-gái trong trắng thơ ngây khi mới dậy thì. Giờ đây, kỷ niệm đẹp ngày xưa, những hình ảnh trong-sáng không tan biến trong đáy hồn Kiều, nhưng Kim Trọng của quá khứ đã chết, tình yêu của thời ngây thơ trong-trắng đã chết. Trước mắt Kiều, Kim Trọng của hiện tại chỉ là một viên quan-lại tầm thường. Tầm thường bởi vì chỉ cần nhớ dai, nhớ giỏi, viết văn không phạm huý và “nhai” thật kỹ tứ thư ngũ kinh như con bò nhai lại cỏ thì dễ dàng thi đỗ, ra làm quan cho triều đại thối nát đương thời. Con người như Kim Trọng dù không tham-ô vì gia thế vốn giàu có, hay không vì đồng lương ít ỏi mà bóc lột dân, con người ấy chỉ biết ăn no mặc ấm thì sống cũng là thừa, không ích-quốc-lợi-dân cho một đất nước loạn ly, đầy dẫy sự bất công và đàn áp bạo tàn.

Trong mười lăm năm luân lạc gió-táp-mưa-sa Kiều gặp Từ Hải,  người có chí lớn, văn võ toàn tài. Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi chốn thanh lâu, hai người sống hạnh phúc được nửa năm thì Từ Hải ra đi và hẹn Kiều, bao giờ làm nên nghiệp lớn sẽ về rước nàng:

Bao gi mười vn tinh binh

                      Tiếng loa dy đất, bóng tinh rp đường

                               Làm cho rõ mt phi thường

                           By gi ta s rước nàng nghi gia 

Lúc từ giã Kiều, Từ Hải chỉ mang theo một thanh gươm và khí hùng chứa đầy cả đất trời. Là một hào kiệt nổi loạn vì thấy dân quá đói khổ, họ Từ chiêu tập binh mã, chiếm vùng đất đai rộng lớn phương Nam, xưng Vương, về sau xưng vua (Triu-đình riêng mt góc tri. Gm hai văn võ, rch đôi sơn hà).

Từ Hải chiếm giữ miền duyên hải được năm năm thì vua Minh sai Tổng-Đốc Hồ tôn Hiến đem quân đánh dẹp. Là một vị tướng có tài chính trị, họ Hồ biết rõ quân lực của Từ Hải hùng hậu, Từ Hải lại được lòng yêu mến của dân chúng phương Nam, nhất là dân miền duyên hải, rất khó dẹp giặc; cho nên Hồ tôn Hiến khôn khéo đem lễ vật tặng riêng Thúy Kiều, ngỏ ý muốn Kiều thuyết phục Từ Hải ra hàng. Quê của Thúy Kiều ở Bắc Kinh, trong mười lăm, Kiều luân lạc dọc theo miền duyên hải từ Bắc xuống Nam đến tận Phúc Kiến, nàng khao khát cùng người chồng áo-mũ-cân-đai vinh hiển trở về quê, đoàn tụ với gia đình một cách danh chính ngôn thuận. Thấm nhuần tư tưởng hiếu, trung và nhân của người Tàu, Thúy Kiều hết lời khuyên chồng đem quân đội về với nhà Minh, tỏ rõ lòng trung quân ái quốc.

Đối với Từ Hải, gặp thời triều đình thối nát, quan lại nhiễu dân, người hào kiệt mài kiếm, lập nên nghiệp bá-vương, tự do tung hoành khi bể Sở, khi sông Ngô, thì phận nam nhi mới thật thoả chí. Nhưng trong đôi mắt của tầng lớp thống trị thời phong kiến, họ Từ là một tướng giặc.

Từ Hải tên thật là Từ Minh Sơn, một thi sĩ nổi tiếng, một nhân vật có thực. Tâm hồn nghệ-sĩ của nhà thơ Từ Minh Sơn xót xa cho quảng đời đầy nước mắt của người vợ yêu dấu, thương cảm cảnh máu đổ thịt rơi của binh-đao; thế nên thi nhân họ Từ chiều ý vợ, cởi chiến y, buông cung kiếm, đem quân đội ra hàng. Nào có ngờ đâu, Hồ tôn Hiến không giữ lời hứa, cho đại quân mai phục, đánh úp. Hào kiệt Từ Hải quá uất, than: “Phu nhân đã làm hỏng việc của ta” (***); rồi chết đứng giữa ba quân tan tác của mình. Cho đến khi Kiều được dẫn đến, phủ phục bên chân chồng khóc thảm thiết thì xác của Từ Minh Sơn mới ngã xuống.

Người anh hùng Từ Hải không thoát khỏi sự chìm đắm trong dòng suối đa tình, đa cảm của thi nhân Từ Minh Sơn. Người anh hùng ấy khi sống là tướng, khi chết là thần (sinh vi tướng, tử vi thần). Bằng những giọt nước mắt không bao giờ khô cạn trong lòng Kiều, cái chết hùng-dũng của thi sĩ Từ Minh Sơn viết thành những vần thơ tuyệt vời bi tráng. Cái chết ấy, mối tình ấy, con người ấy làm sao Kiều có thể quên! Đời đời không thể nào quên.

Và không thể quên những lần ân ái với hào kiệt Từ Hải. Cũng không thể quên ái ân ấy luôn luôn song hành với lòng kính trọng và sự chân thành trọn vẹn của cả con người nàng đối với người mà Kiều hết lòng hết dạ yêu thương. Chính vì thành thực với mình và với “người” mà mối tình ngắn ngủi trở thành nguồn hạnh phúc trong sáng thiên thu. Chính vì thành thực yêu Từ Hải mà Kiều cảm nhận được “chân như” của tình yêu.

Chân như của tình yêu là cái không đổi thay, cái không-sinh-không-diệt của tình yêu thâm trầm nhất nơi con người, chỉ ở con người, và có lẽ nơi Thượng Đế. Chân như của tình yêu đã gạn lọc hết vẩn đục trong đời Kiều. Chân như ấy khơi chất trong-trắng sáng ngời lên. Thế rồi Kiều cảm thấy nàng “trinh’ đối với người anh hùng Từ Hải. Kiều tin rằng thi nhân Từ Minh Sơn cũng yêu và kính trọng nàng, thành thực với nàng.

Kiều từ chối gần gủi với Kim Trọng để bảo vệ mối tình của nàng với thi sĩ họ Từ, và để gìn giữ “trinh” của nàng đối với hào kiệt Từ Hải, người nàng đang yêu và mãi mãi yêu.

Đêm tân hôn, Kim Trọng chỉ âu yếm không quá giới hạn vòng ngoài, chỉ nhẹ nhàng ôm nàng, chỉ trìu mến cầm tay nàng thì nàng không thẹn với “người”. Thúy Kiều muốn thế và Kim Trọng chiều ý.

Kim Trọng dừng lại ở ranh giới tình bạn thì Kiều mới “mở mặt” với người. “Người” ở đây là Từ Minh Sơn, người-đã-khuất ngời sáng thiên-thu trong bóng tối đen như mực của tiềm thức nàng Kiều. Một viên quan chỉ quanh quẩn từ dinh thự riêng đến công đường như Kim Trọng làm sao thấy được bóng người-đã-khuất trong trái tim của vợ, làm sao thấu hiểu và đồng cảm với tâm tình phức tạp, uẩn khúc tâm-tư-câm-nín của một cố nhân gió-sương từng trải như Thúy Kiều.

Nếu người tu hành tóm thâu nghìn vạn vạn năm vào một phần vạn ngàn của giây phút thời gian giác ngộ, có nghĩa là thu nhiếp thiên thu vào một sát-na-hiện-tại linh thiêng của trí tuệ tỉnh-thức, thì Vương Thúy Kiều có thể nhiếp thu một đời trinh tiết đối với Từ Hải vào “chút trinh còn lại” thiêng liêng của tình yêu trăm năm, trăm năm sau và trăm năm sau nữa.

Thế nên, đêm tân hôn Kiều trân trọng ân ái chay-lạt cùng Kim Trọng, trong lúc cố nhân của nàng đang khao khát ái ân nồng mặn với người tình xưa.

Ch trinh còn mt chút này..          

                    Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay.

                                                *

*              *

Có phải một trong những lý do mà Tố Như tiên sinh sáng tác trường thiên thơ Truyện Kiều, phỏng theo tiểu thuyết Tàu, là để chỉ ra cho người đời sau thấy chữ trung, chữ trinh của Việt rất khác Tàu? Tàu thì vật chất thực-tế, áp chế và trói buộc. Việt thì tinh thần cao thượng, nhân chủ và tự do.

Ôi! Tiên Điền tiên sinh, kẻ hậu sinh này được sinh sau Người đúng 180 năm, cũng năm Ất Dậu; ở tuổi 70, đọc Đoạn Trường Tân Thanh mà dòng lệ hạnh-phúc tuôn rơi lã-chã.

Dường như đã là đàn bà, ai cũng đẹp, ai cũng trong trắng khi khóc một mình, và nhìn sâu vào lòng, tấm lòng không hề gian dối tình-cảm với người yêu, thấy một bầu trời xanh ngắt trong sáng thiên-thu……

(***): theo tiểu thuyết của Tàu (tác giả Thanh Tâm Tài Nhân).

Thái Chinh

Be the first to comment

Leave a Reply