Nén hương tưởng niệm những nạn nhân Tết Mậu Thân Huế

Ngô Dân Chủ  – Từ hàng ngàn năm nay trong văn hóa người Việt, Tết Nguyên Đán là những ngày thiêng liêng nhất của dân tộc. Đó cũng là những ngày vui nhất trong năm. Nên dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, những ai tất tả ngược xuôi làm ăn mua bán đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết. Trong một ý nghĩa thiêng liêng nào đó, Tết còn là dịp đoàn tụ với cả những người thân đã mất. Tết cũng là cơ hội để người ta quên đi hận thù, giận hờn năm cũ, hàn gắn những bất hòa. Đó là triết lý về lòng rộng lượng, tính bao dung vào ngày đầu xuân năm mới của người Việt từ bao đời nay. Nói tóm lại, Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam mà ai đi xa cũng nhớ và phải trở về.

 

Ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất chúng ta cũng có 5, 3 ngày hưu chiến để gia đình đoàn viên, chiêm bái tổ tiên, viếng thăm thân thuộc, bằng hữu, xóm giềng với những lời cầu chúc tốt đẹp đầu năm. Người Việt tỵ nạn hải ngoại nhiều chục năm qua dù sống xa quê hương vẫn không quên tập tục tốt đẹp này. Thế nên ở đâu có cộng đồng gốc Việt sống quần tụ chúng ta dễ dàng nhận thấy không khí mua sắm rộn rịp những ngày cuối năm để chuẩn bị cho ba ngày tết. Khói hương nghi ngút, không khí uy nghiêm trước bàn thờ tiên tổ trong những ngày đầu năm để tỏ lòng tôn kính.

 

Vào những ngày này đúng 48 năm trước, mùa xuân năm Mậu Thân 1968; bất hạnh thay, người dân miền Nam nói chung và nhân dân Thừa Thiên Huế nói riêng đã không có những ngày lễ hội lớn nhất mà họ thường có hằng năm! Họ không được chứng kiến những giây phút thiêng liêng nhất của ngày đầu năm với trầm hương nghi ngút! Không có những giây phút uy nghiêm trước bàn thờ tiên tổ! Họ không có những ngày vui nhất trong năm! Họ không có cơ hội để đoàn tụ với gia đình trong bình yên an lạc! Không có dịp để viếng thăm bà con thân thuộc, bè bạn hương lân! Vì ngay trong những giờ phút thiêng liêng và uy nghiêm nhất đó tiếng súng của cộng quân đã giòn giã vang lên khắp các nẻo gần xa, thay cho tiếng pháo giao thừa truyền thống.

 

Đúng như thế, không khí chết chóc, sợ hãi, hoảng loạn đã thế chỗ cho uy nghiêm, tĩnh lặng, bình an. Cộng Sản Bắc Việt đã lợi dụng những ngày giờ ngưng bắn để bí mật chuyển quân. Tiếp cận những nơi đồn trú xung yếu và quan trọng của QLVNCH với sự tiếp tay của bọn Cộng sản nằm vùng. Để rồi ngay trong những giây phút giao thừa truyền thống thiêng liêng, Hà Nội đã đơn phương phá vỡ thỏa thuận hưu chiến mà họ đã cam kết. Chúng bất ngờ và đồng loạt mở cuộc tổng tấn công trên khắp lãnh thổ miền Nam mà Huế được xem là một trọng điểm phải chiếm cho bằng được.

 

Tuy nhiên, sau 25 ngày đêm chiếm đóng, quân đội chính quy của Bắc Việt đã hoàn toàn bị lực lượng Tổng Trừ Bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn I Bộ Binh và quân đội đồng minh Hoa Kỳ đẩy lui khỏi Thành Nội, đánh bật khỏi Thành phố Huế và các quận xã thuộc tỉnh Thừa Thiên. Nỗ lực của cái gọi là “giải phóng” Thừa Thiên Huế của Cộng Sản đã để lại hàng ngàn vành khăn tang cho những thiếu phụ, mẹ già và con trẻ. Những người có chồng, con, cha đã nằm xuống không phải vì chiến trận mà vì đã bị họ bắt đi học tập, và không bao giờ có cơ hội trở về.

 

Hơn một năm sau, vào khoảng tháng 9 năm 1969 nhờ vào lời khai của những cán binh Cộng Sản hồi chánh; chính quyền và người dân Huế mới lần lượt tìm kiếm, khám phá và đào bới ồ ạt ở Gia Hội, Bãi Dâu, Xuân Ổ, Xuân Đợi, Phú Vang, Phú Thứ, Đồng Di, khe Đá Mài… những mồ chôn tập thể. Những người chết được tìm thấy ở các nấm mồ tập thể này với đủ tư thế: nằm ngồi quỳ đứng. Họ đã bị bắn, bị đập đầu bằng cuốc, bị chôn sống và bị buộc chặt lấy nhau bằng kẽm gai, dây điện thoại, và cả lạt tre thành từng chùm từ 3, 5 đến 10 người. Huế đã trải qua những ngày dài lê thê sống trong hãi hùng lo sợ và bây giờ là nước mắt và nước mắt: Nước mắt trên gò má khô nhăn của những người mẹ già còm cõi ngóng trông, trên đôi mắt quầng thâm, thất thần của những người vợ trẻ đã tận cùng của chịu đựng khổ đau, trên những đứa trẻ thơ bỗng dưng ngây dại vì chờ đợi cha về! Ôi có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của người dân xứ Huế!?

 

  Ảnh chụp từ báo Chính Luận ngày 13/14-04-1969.

Ảnh chụp từ báo Chính Luận ngày 13/14-04-1969.

 

Theo thống kê từ lời khai của những gia đình có người thân mất tích và của Ủy Ban Truy tầm và Cải Táng Nạn Nhân: đã có hơn 6,000 người bị chết trong biến cố Tết Mậu Thân chỉ tính riêng ở Huế. Đấy là một tội ác có một không hai trong lịch sử Việt Nam! Tội ác rùng rợn, dã man chỉ có thể xảy ra từ thời Trung cổ!

 

Sau 40 năm đất nước đã thống nhất, chưa có lãnh đạo nào của chính quyền Cộng Sản lên tiếng nhận lấy trách nhiệm. Không những không nhận lấy trách nhiệm, Hà Nội còn cố tình vu vạ, đổ tội cho quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH đã sát hại những nạn nhân này trong chiến dịch phản công rồi vùi tập thể. Thật là trơ trẻn và ghê tởm! Và để xóa đi dấu vết của tội ác này; sau ngày cưỡng chiếm Miền Nam, Hà Nội đã cho phá bỏ những tấm bia tội ác ở nghĩa trang Ba Đồn, xã Thủy Phước gần núi Ngự Bình. Nghĩa trang Ba Tầng ở Núi Bân làng Đình Môn, Kim Ngọc thuộc quận Nam Hòa: Những nơi đã cải tang hàng ngàn bộ hài cốt mà thân nhân không còn nhận dạng được.

 

Hà Nội còn trân tráo, trơ trẽn hơn khi vào những năm 1998 tại Hà Nội, 2008 tại Sài Gòn, và 2013 tại Huế đã cho tổ chức cái gọi là kỷ niệm chiến thắng lịch sử của chiến dịch Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân như là thành tựu đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự do đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Chỉ có những con người vô luân và chủ nghĩa phi nhân mới xem việc tàn sát đồng loại, tay không, là chiến công oanh liệt! Tất cả những hành động này của Hà Nội là nhằm viết lại lịch sử để đánh tráo khái niệm thiện ác, đúng sai, chính nghĩa và phi chính nghĩa để đánh lạc hướng các thế hệ mai sau.

27

Và đây: một bài báo của cộng sản Bắc Việt, tuyên truyền láo khoét và bịp bợm 

về biến cố Tết Mậu Thân 1968 để che giấu tội ác của “Bác và Đảng”


******************

Tên sát nhân cộng sản Hoàng Phủ Ngọc Tường 

dối trá về vụ thảm sát Huế Mậu Thân

Hôm nay chúng ta, trong niềm vui thiêng liêng của ngày đầu năm mới, chúng ta không quên những người đã nằm xuống để chúng ta còn được sống hôm nay. Đó là những chiến sĩ, những cán bộ, công chức, những người đã bảo vệ và phục vụ đất nước. Những người mẹ, người vợ chiến sĩ, các bạn trẻ sinh viên học sinh đã chọn thể chế tự do, dân chủ làm lẽ sống mà phải chết dưới bàn tay Cộng Sản vào những ngày tưởng chừng là bình yên, thiêng liêng và hạnh phúc nhất trong năm! Họ đã chết vì quê hương và vì lý tưởng tự do! Trong bốn câu thơ sau đây, tôi xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Trần Trung Đạo mà tôi vô cùng tâm đắc như là chân lý ngàn đời để tưởng nhớ những nạn nhân Tết Mậu Thân ở Huế:
Anh linh người hỡi về đây chứng,

Lịch sử bao giờ có bất công?

Những ai đã chết vì sông núi,

Sẽ sống muôn đời với núi sông.

 

Tôi xin dùng những lời đầu năm này như là nén hương, những giọt nước mắt để khóc thương và tưởng nhớ các bạn. Xin kính cẩn và chân thành cầu chúc anh linh những người đã mất được yên nghỉ. Cầu chúc vận hội tốt đẹp sẽ đến với những nhà đấu tranh dân chủ để nhân dân Việt Nam sớm hưởng được không khí tự do. Kính cầu chúc người Việt trong và ngoài nước một năm mới – Năm Bính Thân – Thân Tâm Thường An Lạc!

 

Năm Khỉ khó quên trò khỉ

28

Nguyễn Bá Chổi  – …Bính Thân gợi nhớ lại Mậu Thân, 1968. Xấp xỉ đà nửa thế kỷ trôi qua, nhưng còn rói máu trên bàn tay khủng bố Cộng Sản. Một trong bao nỗi kinh hoàng do CS gây cho dân Việt là vụ thảm sát trên dưới 6 ngàn người dân Huế vào dịp Tết năm ấy, trong đó có một người bạn mới quen thân của Bá tước Đờ Ba-le về quê ăn Tết bị chôn sống, chưa nói đến hàng ngàn người dân Việt khắp các tỉnh thành Miền Nam. Qua mật lệnh khai hỏa của đảng trưởng Hồ Chí Minh bằng cái gọi là “thơ chúc Tết đồng bào Miền Nam của bác Hồ”…

 

*

 

Bá tước Đờ Ba-le, tuy đã lầm khi sang đây lấy em “mít” làm vợ, nhưng là “con nhà có đạo” phải chấp hành “điều lệ” đạo trong đó có câu “Sự gì Thiên Chúa kết hợp thì loài người không được phân chia”, nên Bá tước đành bấm bụng “đã lỡ cho lỡ luôn, tới luôn bác tài” yêu nước vợ.

 

Yêu nước vợ chưa hẳn là đã yêu văn hóa nước vợ, nhưng vì luôn luôn phải nhớ lời vợ dặn, “Nhập gia tùy tục”. Riết rồi, Bá tước Đờ Ba-le cũng thấm nhuần “tư tưởng và đạo đức” bác “Mít” phu nhân dân Hải Phòng, trong đó có những điều phải kiêng cữ trong ba ngày Tết.

 

Những điều kiêng cử trong ba ngày Tết theo truyền thống thì nhiều, bao gồm việc làm lẫn lời nói, nhưng theo đà văn minh tiến bộ, ngày nay người ta đã bỏ đi hầu hết, chỉ giữ lại những điều không thể nào bỏ được, chẳng dám ai bỏ được, vì tính chất linh thiêng không thể chối cãi được của những “thứ dữ “ chuyên gieo rắc tai ương hiểm họa này.

 

Đó là những “chụm từ” mà mốt số phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh gọi là “Từ như đồ cấy Chụm”: Cộng Sản, Xã Hội Chủ Nghĩa, Đại Hội, Hồ Chí Minh…

 

Ba ngày Tết gặp nhau, người người chúc nhau toàn những điều tốt đẹp, Hạnh phúc, An khang, Thịnh vượng. Ai lại dại đi nhắc tới bọn Cướp Sạch, Xuống Hố Cả Nút, Đại Họa, Trò Khỉ…

 

Bao năm qua, Tết nào Bá tước Đờ Ba-le cũng đều “làm tốt” lời vợ dặn về chuyện kiêng cử ba thứ tối kỵ này. Nhưng năm nay Bá tước đã vi phạm, không biết do vô tình quên mất, hay cố ý không nghe lời vợ dặn, ngay giờ giao thừa, chưa bước vào năm mới Bính Thân, năm con Khỉ.

 

Bính Thân gợi nhớ lại Mậu Thân, 1968. Xấp xỉ đà nửa thế kỷ trôi qua, nhưng còn rói máu trên bàn tay khủng bố Cộng Sản. Một trong bao nỗi kinh hoàng do CS gây cho dân Việt là vụ thảm sát trên dưới 6 ngàn người dân Huế vào dịp Tết năm ấy, trong đó có một người bạn mới quen thân của Bá tước Đờ Ba-le về quê ăn Tết bị chôn sống, chưa nói đến hàng ngàn người dân Việt khắp các tỉnh thành Miền Nam. Qua mật lệnh khai hỏa của đảng trưởng Hồ Chí Minh bằng cái gọi là “thơ chúc Tết đồng bào Miền Nam của bác Hồ”.

 

Bá tước Đờ Ba-le đang đấm ngực “ăn năn tội” đã quên lời vợ dặn kiêng cử giữ mồm giữ mép trong ba ngày Tết. Bá tước chưa kịp “xưng tội” với vợ hiền, thì vọng vào tiếng Bá tước phu nhân đang cầu nguyện trước bàn thờ ngoài phòng khách:

 

Cầu xin Chúa đưa linh hồn những người đã bị Cộng Sản sát hại trong Tết Mậu Thân lên nước Thiên Đàng. Xin Chúa cho nước Việt Nam thoát khỏi ách độc tài CS mà chúng con đã bị nó hành lâu quá rồi. Nhưng nếu Chúa còn bắt dân tộc chúng con tiếp tục đền tội, dùng CS như cái roi để quất dân VN cho sáng mắt ra, thì cũng xin Chúa cho bó tay CS lại để chúng bớt làm trò khỉ trong năm Khỉ này. Amen.

 

Bá tước Đờ Ba-le vừa vui mừng (khỏi phải xưng tội với vợ) vừa ngạc nghiên, không ngờ Bá tước phu nhân, dân Hải Phòng mà cũng chống CS hăng ra phết. Bá tước bèn “hèn chi” thời gian gần đây các đảng viên CS thay phiên nhau “thoát đảng”, trường hợp mới nhất là Giáo sư Nguyễn Đình Cống, một đảng viên lão thành.

 

Miền Nam tiếp tục bị Bắc thuộc

29

K’tem  – Đại hội thứ 12 của đảng CSVN đã kết thúc. Trong khi theo dõi ĐH, người dân biết trong hai phe tranh giành, phe nào thắng thể cũng vẫn đảng CS là lực lượng tối cao cầm quyền. Biết thế người dân vẫn mong một nhân vật mới trong vai trò lãnh đạo. Không phải người ta trông cậy gì ở gương mặt mới này nhưng người ta mong thế vì người ta mong muốn có sự thay đổi. Thêm nữa, qua những màn tung tin bôi xấu, hạ gục nhau để tranh chức trong những ngày ĐH, người ta mong sự tranh giành quyền lực đạt đến cực điểm, để qua cuộc tranh giành tế bào đảng bị phá vỡ, để sự thay đổi đến nhanh hơn. Nhưng sau ĐH, mọi người thất vọng. Triển vọng thay đổi không đến, ít ra là năm nữa, và không chừng có thể triền miên.

 

Nhưng bên cạnh triển vọng thay đổi không còn, sau ĐH thứ 12, người dân chợt nhận ra ý nghĩa của sự mất cân bằng có tính địa phương trong việc định đoạt nhân sự đảng. Điều này đến từ tiêu chí dành cho chức TBT và tỷ số nhân sự trong bộ phận cấp cao của đảng.

 

Người dân VN vốn hiền hòa, nhất là người miền Nam, bản tính dễ dãi, người ta không chú trọng lắm về con người vùng nào miền nào, miễn là mọi người sống và san sẻ cơ hội sống hài hòa với nhau. Nhưng từ ĐH này ý niệm phân biệt vùng miền được khơi lại bởi chính TBT đảng CS Nguyễn Phú Trọng, người tiếp tục lãnh đạo đảng CS và cai tri đất nước ít ra là năm năm nữa.

 

Người ta không quên trong cuộc vận động nhân sự cho ĐH thứ 12 vừa rồi. Chính phe Nguyễn Phú Trọng khẳng định tiêu chí cho chức TBT: “Một, phải là người miền Bắc; hai, phải là người có lý luận; ba, không có tham vọng quyền lực”.

 

Một người có lý luận, không có tham vọng quyền lực, và có đủ tính chất của người lãnh đạo mà không phải là người miền Bắc thì sao? Hắn không được làm lãnh đạo?

 

Yếu tố miền Bắc được nêu ra ở đây biểu lộ tính cách đố kỵ, tỵ hiềm và tính chất muốn ngồi trên. Tinh thần muốn ngồi trên làm kẻ thống trị không chỉ biểu lộ lúc này ở giai đoạn ĐH thứ 12 này mà nó tiềm tàng đã lâu, trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Ở giai đoạn đó, bộ phận tuyên truyền của đảng CS luôn tạo vai trò “bề trên” của miền Bắc bằng cách tạo ấn tượng là miền Bắc hy sinh mọi thứ từ tiền bạc, lương thực, nhân mạng dành cho cuộc chiến giải phóng miền Nam, giải phóng con dân miền Nam. Chính vì hành vi “hy sinh cho miền Nam” này mà sau khi miền Nam bị giải phóng, những cán bộ, quân nhân miền Bắc bước vào miền Nam với thái độ của kẻ thống trị. Thái độ thống trị đặt lên phần đất miền Nam hơn 40 năm qua chưa đủ. Lần này, qua ĐH thứ 12, tư thế lãnh đạo cả nước của yếu tố miền Bắc lại được khẳng định lần nữa.

 

Nếu để ý dò lại danh sách của ủy viên ở những bộ phận cấp cao của đảng CSVN, số người gốc miền Bắc vẫn cao hơn số người gốc miền Nam (từ vĩ tuyền 17 trở vào). Trong danh sách ủy viên Bộ Chính trị mới có hết 13 người gốc miền Bắc, 2 người gốc miền Trung và 4 người gốc miền Nam. Cùng với tỷ lệ tương tự, trong danh sách ủy viên Ban Chấp hành Trung ương 70% là người có gốc miền Bắc. Tỷ lệ này khiến người ta chú ý đến yếu tố “cân bằng nhân sự” trong mọi hoạt động của đảng. Cuốn sách ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Đức cũng hé lộ sự lưu ý của lãnh đạo đảng về nhân sự vùng miền.

 

Làm gì làm đảng vẫn nhớ đến đòi hỏi của đại biểu gốc miền Nam để cho Võ Văn Kiệt tham gia vào việc tranh ghế Thủ tướng với Đỗ Mười. Làm gì làm đảng vẫn nhớ đến hành động “xé rào” của Võ Văn Kiệt, một nhân vật miền Nam, mở ra cho miền Nam hưởng một chính sách kinh tế thực dụng phản giáo điều, từ đó kích thích tiềm lực kinh tế của miền Nam từ lâu đã bị đánh sập. Dù sự xé rào giúp người dân dễ sống hơn để người dân cung phụng “cơm ăn áo mặc” cho đảng, nhưng đặc tính miền Nam này vẫn làm đảng khó chịu và cảnh giác.

 

Sự khó chịu và cảnh giác vừa rồi, qua ĐH thứ 12, được tập trung vào một nhân vật miền Nam khác. Đó là Nguyễn Tấn Dũng. Nguyễn Phú Trọng lo ngại nếu Nguyễn Tấn Dũng nắm chức vụ tối cao, NTDũng sẽ đẩy đất nước đi chệch hướng khỏi con đường Xã hội chủ nghĩa.

 

Mới đây nhà báo Atsushi Tomiyama đã viết một bài với tựa đề rất nóng ‘How Southern roots, and perhaps China, dashed Dung’s hopes’ (Gốc gác miền Nam, và có lẽ TC, đã làm tiêu tan hy vọng của (NT) Dũng như thế nào) trên Nikkei Asian Review (1).

 

Theo Atsushi Tomiyama: “Many party members are also reluctant to accept a top leader from the south. All eight general secretaries, going back to founding father Ho Chi Minh, came from the northern or central regions.”

 

(Nhiều đảng viên không sẵn lòng chấp nhận người đến từ miền Nam trong vai trò lãnh đạo cao nhất. Cả tám đời Tổng Bí thư, kể từ thời sáng lập của cha già Hồ Chí Minh, đều là người từ miền Bắc hay Trung.)

 

Atshushi Tomiyama có thể đúng khi cho rằng chính gốc gác miền Nam đã hại NTDũng.

 

Trong đảng đã từng có nhiều đánh giá về đảng viên gốc miền Nam qua tính chất khoán đạt, cởi mở, ngạo nghễ, thích làm anh hùng và ít chịu vâng lời của vùng miền mà họ xuất thân. Cả bộ máy đảng và cả nước thừa hưởng cuộc “xé rào” và sự trỗi dậy của tiềm lực kinh tế Sài Gòn – Chợ Lớn. Đảng sẵn sàng thừa hưởng sự phát triển mà miền Nam mang lại nhưng họ không chấp nhận tính chất miền Nam.

 

Xa hơn nữa bóng ma ‘Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ’ của Nam bộ vẫn còn lảng vàng.

 

Cũng liên quan đến vùng miền Atsushi Tomiyama viết: “There is a widespread notion that North Vietnam liberated South Vietnam. Many Vietnamese think the country owes its current prosperity to northern forces. And it is widely accepted that the offspring of those who served in the North Vietnamese Army should get preferential treatment when it comes to educational and employment opportunities.”

 

(Đã có quan niệm rộng khắp cho rằng miền Bắc VN đã giải phóng miền Nam VN. Nhiều người cho rằng sự giàu mạnh hiện nay là do công lao của lực lượng miền Bắc. Và cũng có sự chấp nhận rộng rãi rằng con em của những người phục vụ trong quân đội miền Bắc nên được đãi ngộ với cơ hội học hành và việc làm.)

 

Có lẽ địa bàn tác nghiệp của Atsushi Tomiyama ở tại Hà nội khiến ông ta có nhận xét như vậy. Và sự tiếp xúc của ông cũng quanh quẩn trong địa bàn này cho phép ông viết như thế. Nhưng những nhận xét này khơi dậy vết thương nhức nhối khác. Không người miền Nam nào chấp nhận con em của những người phục vụ trong quân đội miền Bắc lấy hết cơ hội học hành và làm ăn.

 

Hiện nay, hầu hết tại miền Nam, giả dụ những người gốc Bắc vào Nam, nắm các vai trò trong chính quyền hay làm ăn sinh sống hay canh tác đất đai mọi nơi, nói một thứ tiếng khác thì chắc chắn đó là THỰC DÂN. Và không cần giả dụ những người mới vào sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 với một thứ tiếng Việt khác âm sắc cũng không khác gì thực dân. Thực dân Pháp đến đất này cũng nắm chính quyền, cũng làm ăn sinh sống, cũng canh tác đất đai nhưng họ đến và thiết lập. Còn những lực lượng CS từ miền Bắc mà Atsushi Tomiyama cho là “giải phóng” đến bằng sự chiếm lấy và đuổi người khác ra để họ vào, và, quan trọng hơn, tiêu diệt hết những tiềm lực kinh tế mà miền Nam đang có.

 

Lãnh đạo đảng CSVN và bộ máy đảng luôn nhắc nhở toàn dân cả nước về cái ơn thống nhất, qua đó một bộ phận người miền Bắc vào dự phần đời sống ở miền Nam. Và lãnh đạo đảng cùng bộ máy đảng luôn nhắc nhở toàn dân miền Nam cái ơn được giải phóng để người miền Nam trải nghiệm cuộc sống mà dân miền Bắc phải sống, và đồng thới mất đi tiềm lực kinh tế mà sau này “chính sách cởi trói” cho phép nền kinh tế này chạy lại. Và từ cái ơn này mà chức TBT cùng với quyền cai trị được đảng mặc định phải là “người miền Bắc”. Và sự mặc định này đi liền với ý niệm thực dân mà người miền Nam nhận ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.

 

Trong lịch sử đã có nhiều lần “Bắc Thuộc”. Những cuộc Bắc Thuộc đó đến từ các chế độ phong kiến Tàu. Nhưng lần Bắc Thuộc này đến từ miền Bắc qua sự mặc định của đảng. Và nếu nói thêm một chút lần Bắc Thuộc này dân Sài Gòn có một Bí thư Thành ủy là Đinh La Thăng từ Nam Định.

 

Be the first to comment

Leave a Reply