Sư Đoàn lV Không Quân từ thuở sơ khai.

Trước năm 1964, cả vùng IV Chiến thuật chỉ có một biệt đội KQ duy nhất đóng tại phi trường Sóc Trăng, do các phi hành đoàn Quan sát thuộc PĐ 112 đóng tại Biên Hòa xuống. Biệt đội trưởng là Trung uý Nguyễn Tấn Trào.

 

Đầu năm 1964, trong chương trình phát triển KQ. BTLKQ quyết định cải tổ rộng lớn : cho giải thể các Căn Cứ Trợ Lực Không Quân để thành lập các Không Đoàn Chiến Thuật ( KĐCT ). KĐ23CT tại Biên Hoà. KĐ33CT tại Tân Sơn Nhất. KĐ41CT tại Đà Nẵng. KĐ62CT tại Pleiku. Riêng tại Vùng 4 CT, tạm thời thành lập Biệt Đoàn 74 do Thiếu tá Lưu Kim Cương phụ trách. Giai đoạn đầu, trong khi chờ đợi phi trường Bình Thủy (Trà Nóc) đang xây dựng chưa hoàn chỉnh. Biệt Đoàn 74 gồm có các Biệt Đội tăng phái từ KĐ23CT và KĐ33CT xuống: Biệt Đội Quan sát, PĐ 112. Biệt Đội Khu trục, PĐ 514, PĐ 518. Biệt Đội  Trực thăng, PĐ 211. Các Biệt Đội này đáp tạm thời tại phi trường Bình Thủy (đang xây dựng chưa hoàn chỉnh) sáng đi chiều về vì chưa có đơn vị canh giữ phi trường.

Cuối năm 1964, đơn vị chính thức đầu tiên của Biệt Đoàn 74 là Phi đoàn 116. Đây là PĐ tân lập dành cho Biệt Đoàn 74 được thành lập tại Nha Trang đầu năm 1964, gồm một số các nhân viên phi hành của các phi đoàn: PĐ 112 Biên Hoà,  PĐ 114 Pleiku và PĐ 110 Đà Nẵng gom lại. Vị CHT đầu tiên là Th/tá Nguyễn Phúc Tửng, CHP Tr/u (D/u) Thai Thanh Giang, sau đó là Đ/u Bùi Quang Kinh và TPHQ là Tr/u Lê Ngọc Ấn. Cuối năm 1964 Tr/u Ấn dẫn một biệt đội của PĐ 116 về Cần Thơ và tá túc tại bản doanh của Biệt Đoàn 74, một villa hai tầng lầu của Pháp để lại, tại số 9 Phan Đình Phùng, Cần Thơ. Đây là đại lộ chính của CT, chỉ đi bộ chừng vài bước là tới bến Ninh Kiều.

 

Đến đây xin mở một dấu ngoặc để nói về những ngày tháng đầu tiên

của PĐ 116 tá túc tại villa này.

Villa này được kiến trúc theo kiểu “dinh thự”, hai tầng lầu, mái bằng, quét vôi trắng, xung quanh có hàng rào sắt. Cổng ra vào không có chòi canh, không có trạm kiểm soát, chỉ có một binh sĩ đứng trông coi giống như một nhân viên bảo vệ bây giờ nên nhìn từ bên ngoài giống như một khách sạn vậy. Thời gian đó tình hình chiến sự chưa đến nỗi sôi động. Các “xếp lớn” đều có gia đình nên ở ngoài phố, chỉ còn lại chúng tôi, một toán SQ, tất cả đều độc thân, tuổi từ 20 tới 24 nên sinh hoạt rất là hăng say vui vẻ. Chúng tôi có cảm tưởng như đang đi du lịch, đang sống trong “cảnh thanh bình 300 năm cũ” và lúc đó chúng tôi sống đúng nghĩa với câu “phỉ chí tang bồng, coi cái chết tựa lông hồng”. Ban ngày có xe đưa ra phi trường để đi bay. Bầu  trời Vùng IV Chiến thuật bao gồm 16 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long đã tạo nên một bầu trời rộng thênh thang, nhìn thấy chân trời. Chúng tôi tha hồ nhào lộn vùng vẫy. Lúc thì cao vút trên đỉnh Thất sơn, lúc thì xà xà trên đầu cây ngọn cỏ của rừng U Minh, qua kênh Đồng Tháp xuống tận Năm Căn Cái Nước, rồi dọc theo ven biển bay về, ngang qua Bạc Liêu, Ba Xuyên, Vĩnh Bình, Kiến Hoà, Mỹ Tho, rồi men theo dòng sông Cửu Long để về Cần Thơ. Ôi quê hương ta sao đẹp quá, hơn cả gấm lẫn hoa. Tối có xe đón trở về “khách sạn”, chỉ chừng 10 phút thay quần áo civil xong là “khách sạn” đã trống trơn. Tốp thì kéo nhau ra Bến Ninh Kiều, tốp khác thì kéo nhau vào Câu lạc bộ SQ QĐ IV, cũng nằm trên đường Phan Đình Phùng, cũng chỉ đi bộ vài bước là tới. Còn lại thì chìm trong sinh hoạt về đêm của thành phố được mệnh danh là Tây đô.

Trong suốt quãng đời quân ngũ, đối với những quân nhân đã từng phục vụ trong giai đoạn SĐ4KQ còn sơ khai thì hầu như ai cũng công nhận là không có giai đoạn nào đẹp đẽ, yêu đời và “thơ mộng” bằng.

Rồi thời gian “qua đi. ….qua đi… qua đi…..” Bộ Chỉ Huy của các đơn vị thuộc BĐ74 từ từ dọn về mỗi ngày một đông, chúng tôi đã phải trôi đạt vào khuôn viên của viện Đại học Cần Thơ cũ ở tạm.

 

Đầu năm  1965, Tr/tá Trần Văn Minh (TL KĐ 62CT tại Pleiku) được BTLKQ điều về Cần Thơ tiếp nhận Biệt Đoàn 74 để thành lập KĐ74CT, thay thế Th/tá Lưu Kim Cương được chỉ định Chỉ huy Biệt Đoàn 83 tại TSN.

Đến giữa năm 1965, Tr/tá Trần Văn Minh được bổ nhiệm Tư Lệnh Phó Không Quân, Tr/tá Huỳnh Bá Tính được cử thay thế. Tuy nhiên, đến khi Tr/tá Nguyễn Huy Ánh từ Nha Trang được bổ nhiệm về làm TL KĐ74CT, đồng thời chương trình xây dựng phi trường Bình Thủy cũng tạm hoàn tất. Các đơn vị bắt đầu dọn vào phi trường. KĐ74CT bắt đầu hoạt động với đầy đủ các phòng sở, ban ngành, các đơn vị trực thuộc.

TLP KĐ74CT, Th/tá Nguyễn Tấn Sĩ (bị tử thương trong chuyến yểm trợ hoả lực đêm). Th/tá Ôn Văn Tài được bổ nhiệm về thay thế.

Các chức vụ khác lần lượt được các sĩ quan đảm trách như sau:

 

  1. CHT/LĐ Yểm cứ Bình Thủy:

D/u (Th/tá) Nguyễn Trung Sơn (sau về TSN)

Th/tá Bùi Quan Khương (về thay thế).

Các phòng sở khác:

Trưởng đoàn Kiến tạo Th/úy (Tr/úy) Lâm bá Thọ

Trưởng đoàn Yểm trợ hành quân Tr/uý ( Đ/uý ) Bùi thế Bỉ

Trưởng đoàn Chuyển vận Tr/uý ( Đ/uý ) Nguyễ văn Thành

Trưởng phòng Nhân viên Th/úy (Tr/úy)  Hoàng Giảng

Trưởng phòng Tài chánh Th/úy (Tr/úy)  Nguyễn Đức Minh

Trưởng phòng Huấn luyện Tr/uý ( Đ/uý ) Chế văn Thức

Trưởng phòng An Ninh D/u (Thiếu tá) Hồng văn Tý

Trưởng phòng HQCC D/u (Thiếu tá)  Huỳnh công Đặng

Trưởng phòng Chiến tranh chính trị D/u (Thiếu tá) Trần Như Huỳnh

Bệnh xá KĐ74CT Y Sĩ Trưởng B/S Nguyễn Hữu Bao.

  1. CHT/Liên đoàn Phòng thủ, lần lượt:

Th/tá Nguyễn Đức Hớn

Th/tá Nguyễn Quang Ninh

Th/tá Ngô Công Đức

  1. CHT/Liên đoàn Kỹ thuật, lần lượt:

D/u (Thiếu tá) Đoàn Văn Đệ

D/u (Thiếu tá) Nguyễn Cao Nguyên

  1. CHT/Liên đoàn Tác chiến, lần lượt:

D/u (Thiếu tá) Võ Văn Hội (đã bị thương trong một phi vụ yểm trợ

quân bạn).

D/u (Thiếu tá) Nguyễn Phúc Tửng (CHT/PĐ 116 lên thay, sau biệt phái

sang Air Việt Nam).

D/u (Thiếu tá) Nguyễn Văn Trương (CHT/PĐ 520 lên thay, sau đi

du học khóa CHTM/TC tại Mỹ).

D/u (Thiếu tá) Huỳnh Văn Vui (CHT/PĐ 520 lên thay).

Các Phi Đoàn trực thuộc:

Phi đoàn 116

CHT: Đ/uý (Thiếu tá) Bùi Quang Kinh (sau về BTLKQ/Đặc trách Quan sát).

CHP: Đ/uý (Th/tá) Mai Đức Hường.

CHT: Đ/uý (Thiếu tá) Nguyễn Văn Chín (du học Hoa Kỳ về đảm trách).

CHP: Đ/uý (Thiếu tá) Nguyễn Đức Gia.

Phi đoàn 520

CHT: Đ/uý (Thiếu tá) Phạm Quang Điềm

CHP: Đ/uý (Th/tá) Bùi Công Uẩn

 

Phi đoàn 217

CHT theo thứ tự:

Th/tá Ôn Lợi Hồng (sau ra Nha Trang đảm trách CHT/Tr/T HL Nha Trang).

D/u (Thiếu tá) Nguyễn Văn Phú Hiệp (sau đổi đi đơn vị khác).

D/u (Thiếu tá) Mai Văn Hải

D/u (Thiếu tá) Trương Thành Tâm.

Phi đoàn 211

Giữa năm 1969, PĐ 211 từ TSN di chuyển về và được sát nhập vào KĐ74CT.

CHT: D/u (Thiếu tá) Vũ Quang Triệu (mới du học Hoa Kỳ về).

 

Năm 1970, KĐ74CT được chọn làm đơn vị thí điểm

thành Sư đoàn KQ đầu tiên và SĐ4KQ chính thức được thành lập (Kể từ đây danh xưng Tư Lệnh chỉ dành cho TL SĐ, còn từ KĐ trở xuống đều gọi là KĐT hay LĐT mà thôi).

Vị Tư Lệnh  đầu tiên của SĐ4KQ.

Đại tá (Chuẩn Tướng)  Nguyễn Huy Ánh

TLP Trung tá (Đại tá ) Ôn Lợi Hồng.

SĐ4KQ gồm có 2 căn cứ:

Phi trường Bình Thủy và Phi trường Sóc Trăng.

Các đơn vị đồn trú tại phi trường Bình Thủy gồm :

A – Bộ Tham Mưu SĐ (tổ chức theo mô hình BTLKQ nên có nhiều TMP và Phụ tá).

– Phụ tá Quân pháp, chưa có.

– Phụ tá Thanh tra, chưa có

– Phụ tá Quân Y, do Y Sỹ Trưởng Trung tâm Y khoa kiêm nhiệm.

– Phụ tá An phi Th/tá Bửu Ngô.

+ TMP Hành Quân:  Tr/ta (Đ/ta) Nguyễn Văn Chín

Sau này cải tổ có thêm các phòng sở:

– Phòng Kế hoạch Hành Quân: Th/tá Nguyễn Văn Xuân

– Ban Kế hoạch Hành Quân: Th/tá Trần Văn Tiếng

– Ban Tổ chức Nhân lực: Th/tá Nguyễn Công Bình

– Phòng Truyền tin Điện tử: Tr/tá Trần Ngọc Côn Sơn.

– Phòng Quân báo: Th/tá Lâm Tùng Nguyên

+ TMP Không Cụ, sau đổi lại TMP/Tiếp vận: Tr/tá Trần Thế Tâm

+ TMP Nhân viên: Trưởng phòng Nhân viên KĐ Yểm cứ Bình Thủy

kiêm nhiệm.

+ TMP Chương trình Kế hoạch: Th/tá Nguyễn Hoài Nam

+ TMP Huấn luyện, sau đổi lại là TMP Nhân Huấn

Th/ta (Tr/ta) Nguyễn Ngọc Thức

+ TMP CTCT Th/ta (Tr/ta) Trần Như Huỳnh

+ TMP Truyền tin Điện tử: Tr/tá Trần Ngọc Côn Sơn.

Sau sát nhập vào văn phòng TMP/HQ

Phòng Hành quân chiến cuộc: Th/ta (Tr/ta) Huỳnh Công Đặng.

 

B – Các Không Đoàn Chiến Thuật

+ KĐ74CT.

KĐT: Đại tá Nguyễn Quang Ninh.

KĐP: Trung tá Nguyễn Văn Trương. Sau đổi đi Phù Cát.

Tr/tá Huỳnh Văn Vui. Sau về BTLKQ.

KĐP để trống.

– PĐ 116

PĐT: Trung tá Nguyễn Đức Gia. Sau đi học khóa CHTM / Cao cấp

Long Bình.

PĐP: Thiếu tá Bùi Thanh Sử lên XLTV PĐT

– PĐ 122

PĐT: Trung tá Trần Trọng Khương.

PĐP: Thiếu tá Từ Công Phước.

– PĐ 520

PĐT: Trung tá Phạm Quang Điềm. Sau đi học khóa CHTM / Cao cấp

Long Bình.

PĐP: Thiếu tá Bùi Công Uẩn. Sau được điều về văn phòng TMP HQ.

PĐP: Thiếu tá Nguyễn Văn Thi.

PDP: Thiếu tá Trần Anh Tuấn lên XLTV PĐT

– PĐ 526

PĐT: Trung tá Hỳnh Hữu Hải

PĐP: Thiếu tá Tạ Hoà Hưởng

– PĐ 546

PĐT: Trung tá Lê Mộng Hoan. Sau đi học khóa CHTM / Cao cấp Long Bình

PĐP: Thiếu tá Lê Văn Thặng lên XLTV PĐT

 

+ KĐ84CT

KĐT: Trung tá Mai Văn Hải.

KĐP: Trung tá Nguyen Văn Bông

KĐP: Trung tá Nguyễn Thanh Cảnh

– PĐ 225

PĐT: Trung tá Lê Văn Châu

PĐP: Thiếu tá Đặng Đình Đạt

– PD 227

PĐT: Trung tá Trần Châu Rết

PĐP: Thiếu tá Lê Công Quân

– PĐ 211

PĐT: Trung tá Trần Quế Lâm

PĐP: Thiếu tá Nguyễn Văn Tùng

– Phi Đội Tản thương 259 I

Phi Đội Trưởng: Thiếu tá Nguyễn Trọng Thanh.

 

+ KĐ64CT

Không đoàn trưởng: Trung tá Trương Thành Tâm

Không đoàn phó:      Trung tá Nguyễn Văn Ưc.

– PĐ 217

PĐT: Trung tá Nguyễn Văn Vọng

PĐP: Thiếu tá Lê Tấn Thịnh

– PĐ 255

PĐT: Trung tá Nguyễn Kim Hườn

PĐP: Thiếu tá Mai Van Chớ

– PĐ 249

PĐT: Trung tá Phan Văn Việt

PĐP: (chua duoc bo nhiem)

Phi Đội Tản thương 259 H

Phi Đội Trưởng: Thiếu tá Phạm Thành Quới

 

+ Không đoàn 40 Bảo toàn Tiếp liệu:

KĐT: Trung tá Nguyễn cao Nguyên

KĐP: Trung Tá Lê Vinh Quang

Liên đoàn trưởng Bảo trì cấp căn cứ Trung tá Nguyễn mạnh Đức

Liên đoàn trưởng Bảo trì cấp đơn vị Trung tá Ngô văn Kim

Liên đoàn trưởng Tiếp Liệu Trung tá Trần hữu Phước

Liên đoàn trưởng Vũ khí & Đạn dược Thiếu tá Nguyễn đức Cường

 

+ KĐ Yểm cứ Bình Thủy:

KĐT: Đại tá Bùi quan Khương

LĐT Phòng thủ:Trung tá Trần vĩnh Đạt

LĐT Trợ lực: Trung tá Nguyễn tấn Thọ

Trưởng đoàn Kiến tạo: Thiếu tá Lâm bá Thọ

Trưởng đoàn Truyền tin: Tr/u Kol Sorl Biên

Trưởng đoàn Yểm trợ hành quân: Th/tá Mai tấn Thế,

Th/tá Phạm Văn Hưng, Đ/u Nguyễn Đức Minh

Trưởng đoàn chuyển vận: Trung tá Nguyễn văn Thành.

Th/tá Ngô Ngọc Thành, Tr/u Nguyễn Văn Long.

Phân đoàn Tổng vụ: Tr/u Nguyễn Văn Lang

Trưởng Phòng Nhân viên: Tr/tá Nguyễn Thanh Vân

Trưởng Phòng Tài chánh: Đ/u Nguyễn việt Cường, Tr/u Vũ Thế Kiệt

Trưởng Phòng Huần Luyện: Th/tá Chế văn Thức

Trưởng Phòng Tâm lý chiến: Tr/tá Trần Như Huỳnh

Trưởng Phòng An ninh dưới đất: Th/tá Nguyễn Linh Hồng.

Trưởng Phòng An ninh KQ: Trung tá Hồng văn Tý

Bệnh xá được đổi lại là Trung Tâm Y Khoa KQ gồm:

B/S Nguyễn Ngọc Châu, B/S Diêu, B/S Nguyễn Lãng Uyên,

B/S Đỗ Quang Trường, B/S Thức, B/S Nguyễn Văn Cường.

B/S Phước, B/S Trần Thái Lâm, Nha sĩ Võ Quốc Định

 

+ Các đơn vị đồn trú tại phi trường Sóc Trăng.

– Liên đoàn Yểm cứ Sóc Trăng.

LĐT: Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền

Một phần của KĐ84CT gồm các PĐ 225 và PĐ 227

Trưởng đoàn Yểm trợ hành quân: Th/tá Phạm văn Hưng

Trưởng đoàn Phòng Thủ: Th/tá Huỳnh Cao Khải

Trưởng đoàn Kiến tạo:  ?

Liên đoàn Bảo trì Tiếp liệu: Đ/u Ngô Quý Hiền

 

Năm 1971 SĐ4KQ tiếp nhận phi trường Cần Thơ do quân đội Mỹ chuyển giao lại nên đã lập ra Căn cứ 40 CT KQ do Đ/tá Nguyễn Văn Bá làm CHT và Căn cứ Sóc Trăng được giải thể. Liên Đoàn Yểm cứ Sóc Trăng và toàn thể nhân viên được sáp nhập về Liên đoàn Yểm cứ Cần Thơ và đồn trú tại Căn cứ 40 CT KQ, gom co:

– Không Đoàn 64 Chiến Thuật

– Liên đoàn Yểm cứ Cần Thơ

– Liên đoàn 42 Bảo trì & Tiếp liệu Thiếu tá Nguyễn thành Văn.

– Đoàn Yểm trợ hành quân Thiếu tá Phạm văn Hưng

– Phòng Huấn luyện Thiếu tá Phạm văn Se

 

Các đơn vị KQ khác nằm trong Hệ Thống Điều Hành Không Trợ

cho Quân Đoàn 4

 

– Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 4

Giám Đốc: Đại tá Lê Phúc Lộc

Phó Giám Đốc: Trung tá Chu Quang Anh

Phòng Sĩ quan Liên lạc KQ: Tr/tá Trương Hữu Hạnh

Đài Kiểm Báo Paddy

(1967- 1970) Trưởng đài: Thiếu tá Nguyễn Cầu

(1970-1975)  Trưởng đài: Thiếu tá Nguyễn bửu Lộc

Ca hai don vi nay thuộc BTLKQ.

 

Sư đoàn đang phát triển một cách đều đặn. Các đơn vị, các phần sở đều hăng say hoạt động, thật tấp nập nhộn nhịp thì Tướng Tư Lệnh bị tai nạn tử thương. Nhân đây cũng xin tường trình vắn tắt lại tai nạn đó để tưởng nhớ tới vị Tướng quân hăng say với công việc, tận tụy với trách nhiệm.

 

Vào một buổi trưa oi bức của tháng tư năm 1972. Tôi đi thi hành phi vụ thử phi cơ. Sau khi mở máy, di chuyển ra đầu phi đạo, xin đài kiểm soát cho ra phi đạo cất cánh thì đài kiểm soát bảo tôi chờ để nhường cho phi cơ khác đáp trước, tôi liền ngước lên nhìn thì thấy một phi cơ trực thăng HU 1, đang cố câu chiếc phi cơ L 19 mới rớt cách đó mấy ngày và rất gần với phi trường. Sau 2,3 lần nhấc thử, cuối cùng chiếc L 19 cũng được nhấc lên, rồi từ từ lên cao nữa. Tôi đã khen thầm: “hay quá, thật là gọn gàng, đỡ tốn bao nhiêu nhân lực”. Khi phi cơ lên đủ cao độ, bắt đầu bay vào đáp thì chiếc L 19 ở dưới bắt đầu đong đưa, chao sang phải, chao sang trái rồi bỗng bay vút lên cao về phía trước đâm vào cánh quạt của chiếc trực thăng, khiến cả hai rơi xuống đất như cục đá, tim tôi thắt lại, tôi thật sự lo lắng cho phi hành đoàn nào đó. Tôi liền quay trở về bến đậu, về lại phi đoàn thì được biết Tướng TL đã tử thương. Toàn thân người tôi như có điện giật, tê dại, hình ảnh ông hiện ra trong trí tôi rất nhanh như một đoạn phim về tất cả các hành động, cử chỉ, lời ăn tiếng nói và mắt tôi bắt đầu mờ dần.

SĐ4KQ mất đi một vị TL khả kính, đa tài và nhân hậu. Rồi Tướng Nguyễn Hữu Tần về thay thế. Sư đoàn bắt đầu lấy lại phong độ, được ít lâu thì hiệp định Ba Lê ký kết, mọi sinh hoạt đều khựng lại, dậm chân tại chỗ. Những tưởng toàn dân VN sẽ được hưởng một nền hoà bình vĩnh cửu nào ngờ bọn CS Bắc Việt lật lọng, tráo trở, lại được sự ngấm ngầm làm ngơ của người bạn đồng minh nên SĐ4KQ đành phải chịu chung số phận của vận nước. Đàn chim SĐ4KQ đã phải bay tứ tán, trôi dạt khắp nơi trên thế giới cho tới ngày nay.

Sau 41 năm phiêu bạt, đây là lần thứ hai bầy chim tìm về với nhau, mong được gặp lại các cấp chỉ huy xưa cũ, các chiến hữu, các bạn bè thân quen, nhân viên các đơn vị bạn đã cùng phục vụ chung dưới bóng cờ SĐ4KQ. Như muốn được thấy lại những hình ảnh quen thuộc của cả SĐ như buổi chào cờ sáng thứ hai mỗi tuần thu gọn.

Hãy về với chúng tôi, ngày 3 tháng 7, 2016, ngày hội lớn của SĐ4KQ. Qua bản ghi danh tham dự, chúng tôi nhận thấy có đầy đủ mọi đơn vị của SĐ: từ Phòng thủ, An ninh, Truyền tin, Tiếp vận, Nhân viên, Huấn luyện, Tâm lý chiến, Tiếp Liệu, Vũ khí đạn dược, Kỹ thuật, các phi đoàn Quan sát, Khu trục, Trực thăng, phòng Quân Y SĐ, HQCC, Bộ Tham mưu các KĐ và SĐ, có cả ASOC 4 và đài kiểm báo Paddy. Đây có lẽ là lần duy nhất và chắc không có lần nào khác có mặt đầy đủ các đơn vị của SĐ4KQ như lần này là bởi vì khi ra đi người trẻ nhất cũng là 20 nên bây giờ nhỏ nhất cũng trên 60, thế hệ chúng tôi cũng trên 70, rồi cứ ít lâu lại nghe tin có một vì sao rụng, như vậy đâu còn dịp nào nữa để mà. …….. chờ mong!

Qua kinh nghiệm, ngoại trừ đại hội khu trục hay đại hội trực thăng, còn ngoài ra, các đại hội khác của KQ, chưa thấy đại hội nào lại đông khu trục, trực thăng, các đơn vị, mọi cấp bậc, tham dự đông như lần này, chứng tỏ tất cả chúng ta đều cảm thấy trước khi mờ dần trong tâm tưởng mọi người ta phải…….. ta phải………

Vâng, tôi hiểu ý quý vị, tôi xin được nói lên cái ý đó. Quý vị cho phép tôi được thành lập ban đại hợp xướng SĐ4KQ, gồm mấy trăm người, chúng ta cùng nhau đồng ca nhạc phẩm “Nếu có yêu tôi” của nhạc sĩ Trần Duy Đức, thơ Ngô Tịnh Yên.

Chúng ta bắt đầu nha: Có tốt với “nhau”. Hai, ba   Có tốt với “nhau”

Dạ chưa được, lớn hơn  Có tốt với “nhau”   lớn hơn nữa

Có tốt với “nhau” OK tiếp tục thì tốt với “nhau” bây giờ.

Đừng đợi ngày mai, đến lúc “ta” xa người.

Đừng đợi ngày mai, đến khi “ta” phải ra đi.

Ôi muộn làm sao, nói lời tạ ơn.

………………………………………………

Cát bụi làm sao, mà biết mỉm cười.

……………………………………………….

“Ta” chẳng làm sao, tạ lỗi cùng người.

“Ta” chẳng làm sao ……. tạ lỗi …….cùng người…..”

 

Phụ chú: Vì Thời gian quá lâu, hơn nửa thế kỷ, mặc dầu có sự giúp đỡ của quý Niên trưởng: Nguyễn Văn Chín, Bùi Quan Khương, Trương Thành Tâm và hai anh Phạm Quang Điềm, Nguyễn Đức Cường nhưng vẫn có thể có sự thiếu sót: tên, cấp bậc, chức vụ v.v. Xin quý vị lượng tình bỏ qua. Xin cảm ơn.

 

Nguyễn Đức Gia

 

Be the first to comment

Leave a Reply