BÌNH ĐỊNH ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

LTS.-  Hội Ái Hữu Bình Định Dallas-Fort Worth ra đời gần mười năm như một cái “nôi” của những người Bình Định xa quê hương sau biến cố đau thương 30 tháng 4 năm 1975 cùng hội tụ nơi thành phố này. Kẻ trước người sau và nhu cầu tìm lại cội nguồn bản sắc có cùng một nơi chôn nhau cắt rún, có cùng một giọng nói với sông núi và biển cả mênh mông. Những địa danh một thời đã gắn liền di tích lịch sử của những anh hùng kiệt xuất trong nhiều lãnh vực khác nhau. Đại Đế Quang Trung Nguyễn Huệ là một biểu tượng hào hùng của quê hương Bình Định. Nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều nhân vật lịch sử khác mà chính con dân Bình Định vẫn chưa biết tới…

Là con dân Bình Định, chúng ta phải có trách nhiệm tìm lại nguồn cội của mình, xứ sở được gọi BÌNH ĐỊNH ĐỊA LINH NHÂN KIỆT.  Trong mỗi lần tổ chức như Kỷ niệm Đống Đa vào dịp Tết hoặc họp mặt mùa hè ngoài trời cũng còn thiếu vắng nhiều người. Thắc mắc được nêu ra nhiều lần: tại sao người Bình Định tham gia còn ít hơn thân hữu? Một cách trả lời đơn giản và thực tế: Có bao nhiêu người Bình Định đã biết về Bình Định, do đó mục đích và ý nghĩa của các buổi sinh hoạt không còn hấp dẫn lôi cuốn hay mọi người đã quay mặt với quê hương đất tổ, nơi chôn nhau cắt rún của mình.  Nguồn gốc, giọng nói, cá tính, dòng sông, ngọn núi, con suối đã un đúc tính khí con người Bình Định đã bàng bạc theo thời gian và cuộc sống  nơi xứ người. Thế hệ chúng ta không hiểu biết gì Bình Định thì nhịp cầu nào cho con cháu quay về nguồn….

Chúng tôi muốn cùng đồng hương Bình Định dành một chút thời gian, nhớ về cội nguồn của mình. Chúng ta hiểu, chúng ta mới biết quê hương Bình Định của chúng ta hùng vĩ, một xứ sở ĐỊA LINH NHÂN KIỆT.  Kính mong đón nhận bài viết hoặc tài liệu liên quan đến xứ sở Bình Định để thực hiện KỶ YẾU “BÌNH ĐỊNH ĐỊA LINH NHÂN KIỆT”  sẽ phát hành vào dịp Kỷ niệm Lễ Chiến Thắng Đống Đa năm tới.

NVDL

 

Những hòn độc sơn ở Bình Định
Núi Bình Định thuộc hệ thống dãy Trường Sơn, thường nối tiếp nhau thành dãy dài, hoặc quây quần nhau thành khóm và hầu hết đều bằng đá và cây cối sum sê.

Nhưng rải rác đó đây, lại có những ngọn núi đất mọc lẻ loi giữa đồng bằng, như những cù lao ngoài biển. Những ngọn núi này phần nhiều là núi trọc và không cao. Nhưng có lắm ngọn có danh. Như hòn Hương Sơn chẳng hạn.

Hòn Hương Sơn (100 thước) tục gọi là Núi Thơm nằm tựa sông Côn về phía Bắc ngạn, giữa những cánh đồng rộng của thôn Kiên Thạnh ở phía Tây, thôn Trường Định ở phía bắc, thôn Vân Tường tiếp theo Trường Định chạy từ Tây Bắc, vòng qua mặt Bắc rồi quẹo xuống Đông Bắc, thôn An Chánh tiếp theo Vân Tường giăng dài ở mặt Đông, từ Bắc vào Nam, thuộc huyện Bình Khê.

Hòn Hương Sơn là một hòn núi đất sỏi càn táo, gai rậm cây thưa. Chỉ phía sông Côn và phía Kiên Thạch, từ chân núi lên gần đỉnh, cây cối sum mát. Đồng bào thôn Kiên Thạnh hầu hết đều cất nhà ở trên triền núi. Nhà cất từng tầng từng bậc, xa trông tưởng chừng nhà nọ chồng lên nhà kia, tranh có ngói có, ẩn hiện trong những đám cây xanh. Buổi mai bóng núi che mát. Lúc bình minh, lúc hoàng hôn, khói nấu cơm từ sườn núi bay ra lững lờ phơ phất. Đứng bên kia sông Côn xiên xiên về hướng Tây mà trông sang thật vô cùng ngoạn mục.

Dưới chân núi, vào khoảng cuối Kiên Thạnh đầu Trường Định, có một bàu nước rộng chừng vài ba mẫu ta, gọi là Bàu Um. Bàu này có điểm đặc biệt là rất nhiều ốc bươu. Mỗi buổi sáng ốc bươu bám vào rong nổi đặc cả mặt nước. Người trong thôn lấy một chiếc rổ thưa cột sào dài, luồn dưới rong mà với ốc. Mỗi bữa vớt cả thúng. Ốc ở Bàu Um đã lớn con lại không hôi bùn. Mua về ngâm nước cơm độ vài ba giờ về rửa cho sạch ruột, rồi um dầu mà đánh chén, thì dù đã giới tửu lâu ngày cũng phải tiếc rằng không gặp Lưu Linh để chung thú. Không biết có phải vì hương của ốc um mà bàu mang danh là Bàu Um chăng? Không ai biết rõ. Chỉ biết rằng ai đến viếng Hương Sơn mà không hưởng vị ốc um thì uổng lắm lắm.

Hương Sơn còn một sản phẩm nữa cũng đáng lưu ý. Đó là Xoài Tượng. Xoài Tượng Bình Định ngon nổi tiếng khắp Việt Nam. Nhưng phải nhượng xoài Đá Trắng ở Phú Yên, vì xoài Đá Trắng (rất hiếm) thịt cứng như xoài ngâm nước đá. Xoài mọc ở Hương Sơn, nhất là nơi triền núi phía Đông, chỉ kém xoài Đá Trắng một mười một chín. Đó là do thổ nghi.

Nhờ Xoài Tượng và Ốc Bươu mà tình khách “dân thiên” đối với Hương Sơn rất nồng đượm.

Đối với Hương Sơn tình nồng đượm không kém khách “dân thiên” còn có các thầy địa lý. Nhưng các thầy địa chiếu cố đến Hương Sơn không phải vì xoài tượng ốc bươu mà là vì địa hình địa cuộc.

Hình hòn Hương Sơn là hình con miên khuyển, tức là con chó nằm ngủ. Lưng ở trên Tây, bụng úp xuống Đông, đầu mỏ quặp vào bụng, vai cổ bày ở phía Nam, đùi đuôi khoanh ở mặt Bắc. Trong cao, ngoài thấp; phía Nam, phía Bắc ngắn hơn phía Tây, Đông. Nếu tìm được huyệt “Miên khuyển hoài trung” tức là lỗ rún của con chó ngủ” để gởi lại đống thịt xương khi về chào ông bà ông vải, thì con cháu nhất định phát lớn. Bởi vậy, thỉnh thoảng người địa phương trông thấy đôi người lạ mặt, Tàu có, Việt có, xách chiếc địa bàn bọc trong khăn gói vải đỏ, đi thơ thẩn trên triền núi, hết dọc rồi ngang. Chắc chưa thầy địa nào tìm thấy huyệt, vì bụng chó úp xuống đất, mắt quý thầy dù đeo kính sáng cũng không thể xuyên qua bao nhiêu lớp đất sỏi vừa cứng vừa dày.

Hương Sơn, dưới con mắt nhà địa lý là “Miên khuyển”. Nhưng dưới con mắt nhà binh pháp, thì đó là con “ẩn báo” tức con beo nằm dấu hình, có thể dụng binh. Bởi vậy, nghĩa binh Cần Vương đã dùng Hương Sơn làm một cứ điểm quân sự. Và một dãy đồn lũy đã xây đắp nơi một cái eo ở giữa núi, gọi là Thứ Hương Sơn.

 

Núi Ngang
 
Núi Ngang tên chữ là Hoàng Sơn, thuộc huyện Tây Sơn. Tên núi do hình thế và vị trí mà đặt. Quang cảnh, khí thế hùng. Sau lưng, núi non từ đèo An Khê chạy xuống, điệp điệp trùng trùng.

Trước mặt, nào gò nào ruộng, nơi vun nơi bằng, và màu sỏi đỏ, màu đá xám chen lẫn cùng cỏ cây lúa đỗ, khi đậm khi nhạt, chỗ nhặt chỗ thưa, trên cao trông xuống giống in bức thảm bằng xơ dừa nhiều sắc.

Con sông Côn từ hướng Tây chảy xuống, đến cuối Trinh Tường tiếp nhận con sông Đá Hàng từ Nam chảy ra, thành hình “lưỡng long giao thủ”. Và hòn núi Ông Đốc phía Đông Nam ngó lên, hình như con mãnh hổ phủ phục.

Ngoài cảnh “long bàn hổ cứ”, trong cuộc đất Núi Ngang còn có nào chuông (Hòn Một), nào trống (Hòn Giải), nào ấn (cũng Hòn Giải), nào kiếm (hòn Hóc Lãnh). Và hòn Hợi Sơn với vũng nước sâu trên đỉnh làm nghiên, hòn Trưng Sơn với chóp nhọn chấm trời làm bút. Những ngọn núi này đứng từng cặp một cách cân đối trước Hoành Sơn, như có tay người sắp đặt.

Mấy dãy gò ở trước núi, nhìn kỹ cũng lắm vẻ kỳ: Gò chạy lúp xúp như sóng biển cuộn nồm. Trên gò, đá mọc từng khóm, trông như những đám người ngồi dụm lại với nhau. Các thầy địa lý bảo là cuộc “Thần đồng hội giảng”.

Và đó là những cảnh gần, hầu hết đều nằm trong địa phận Trinh Tường (Tây Sơn).

Nếu chúng ta đứng trên đầu Núi Ngang, đưa xa tầm mắt xuống Đông, thì chúng ta thấy núi chạy liền dây, lớp thì giống những hàng cờ đuôi nheo bay trước gió, lớp thì tựa những chiếc trống trận có người khiên, linh động nhịp nhàng, chẳng khác một đoàn quân gióng trống xổ cờ xuất trận. Cho nên các thầy địa lý bảo đó là cuộc “Chấn cổ canh kỳ”.

Sát chân núi phía Đông, khoảng giữa, nổi lên một trảng đất lum lum. Trong khoảng này dáng núi lại hơi cong cong. Đứng phía trước trông vào thì giống một ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa là núi, và mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia Long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc, song thân ba vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong đương cháy.

Ai cũng biết bốn chum dầu ấy do nhà Tây Sơn chôn, song không ai đoán ra mục đích. Và tất cả mọi người đều biết di hài của ông bà Nguyễn Phi Phúc táng tại Hoành Sơn, nhưng cũng không có người nào biết được nơi chốn. Vua quan nhà Nguyễn ra công tìm kiếm, nhưng dấu tích vẫn mờ mịt mây khói.

Nơi trảng đất dưới chân Hoành Sơn, hiện nay vẫn còn ít nhiều di tích. Những khách phương xa đến viếng cảnh, không biết rõ câu chuyện, đều lầm tưởng là mộ Nguyễn Phi Phúc bị đào.

Có người bảo rằng ngọc cốt của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cũng táng trong vùng Hoành Sơn. Đó là bằng theo chuyện “bạch mã hiện hình” mà ước đoán.

Nguyên vua Thái Đức có một con chiến mã rất tốt: Thân vóc cao lớn như ngựa bắc thảo, lông trắng như tuyết, đuôi và kỳ mao mịn như tơ. Nhà vua yêu quý rất mực. Sau khi nhà vua băng hà, con bạch mã xổ chuồng chạy mất, quan quân tìm kiếm không ra. Cách ít lâu, chiều chiều người trong vùng Hoành Sơn thường trông thấy bóng ngựa trắng, khi thì đi thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên đỉnh đứng hí não nùng.

Mọi người đều tin rằng đó là con bạch mã, hoặc là hồn thiêng con bạch mã của vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, người trong Ấp Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng.

Nhưng sau khi hai nấm mộ giả nơi trảng đất dưới chân núi bị nhà Nguyễn phá hủy, thì bóng ngựa vắng biệt trong một thời gian khá lâu. Mãi đến khi nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng dấy nghĩa Cần Vương (1885-1887) thì bạch mã xuất hiện trở lại. Người địa phương cho là “ngựa thần” nên hết lòng kính sợ.

Vì sao thấy “ngựa trắng hiện hình” lại đoán rằng lăng mộ vua Thái Đức táng nơi Núi Ngang?

Là vì ngựa vốn là giống vật rất khôn và có nghĩa. Nhiều con, chủ chết, bỏ ăn bỏ uống ra mả nằm chết theo. Lắm con không chết theo, nhưng thỉnh thoảng tìm đến thăm mả chủ, và cất tiếng hí thê lương. Nếu ngọc cốt của nhà vua không an táng nơi Hoành Sơn thì sao con ngựa – hay hồn ngựa – của nhà vua lại tìm đến.

Đó là ước đoán, chớ từ xưa đến nay không ai biết rõ nơi chôn cất vua Thái Đức, mặc dù vẫn truyền rằng di thể được long trọng đưa về cố hương.

Còn về việc người Bình Khê (nay là Tây Sơn), nhất là người Phú Lạc, Trinh Tường, không nuôi ngựa trắng, vì trước kia do lòng tôn trọng vua Tây Sơn, sau này một phần lớn do lòng mê tín: Sợ thần Bạch Mã.

Nghe đồn rằng: Thời Pháp thuộc, tại Đồng Vụ (thuộc Trinh Tường) có người mua được con ngựa bạch toàn sắc, đem về nuôi không được bao lâu thì tự nhiên ngã đùng ra chết. Người ta tin là bị thần Bạch Mã vật. Do đó lòng kiêng cữ nuôi ngựa trắng của người địa phương gia tăng.

Đó là những chuyện ngày xưa. Bây giờ, không biết ngựa trắng có còn xuất hiện nơi Hoành Sơn? Và người vùng Hoành Sơn có còn sợ thần Bạch Mã?

Dù có không – không có, những huyền thoại kể trên thêm vào những di tích lịch sử, làm tăng phẩm giá cho Hoành Sơn.

Năm Tân Sửu (1961), nhân dân Tây Sơn lại dời trung cốt Mai anh hùng đến an táng nơi Hoành Sơn. Lăng tẩm trang nghiêm hùng tráng làm tăng khí sắc sông núi lên bội phần.

Khách du lịch đến Bình Định, tưởng không nên quên Núi Ngang vậy.

Theo Nước non Bình Định (Quách Tấn)

Be the first to comment

Leave a Reply