Đọc sách – Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam

LTS.- Phương Anh Trang là tên thường dùng của Ông Nguyễn Cúc sáng lập Tiếng Sông Hương, một tuyển tập văn học-lịch sử rất có giá trị tại hải ngoại từ thập niên 1980. Những tài liệu lịch sử quí giá ông còn lưu giữ liên quan đến nhiều nhân vật lãnh đạo đất nước như Cựu Hoàng Bảo Đại, Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cố Vấn Ngô Đình Nhu, Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và các sử gia như Cụ Hoàng Văn Chí, Giáo sư Tiến Sĩ Phạm Cao Dương…

Nhân đọc cuốn tài liệu lịch sử: Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam trong dịp Tưởng Niệm 42 năm Quốc Hận gởi tặng. Ông có nhã ý viết tặng Độc giả Người Việt Dallas một số nhận xét trong tinh thần xây dựng và đóng góp với tác giả một số sự kiện liên quan đến biến cố lịch sử nước nhà. Nếu có dịp và được cho phép chúng tôi tiết lộ thêm một số tài liệu khác mà ông cho biết số tài liệu này sẽ được hỏa táng theo ông qua cõi vĩnh hằng.

Ông cũng đang giúp chúng tôi thực hiện một tập kỷ yếu lịch sử về Bình Định: Quinhơn-Bình Định: Non nước hữu tình – Địa linh Nhân kiệt.

Xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Cúc và chúc ông sức khỏe, giúp chúng tôi hoàn thành ý nguyện.

Thái Hóa Lộc

Người Việt Dallas   

Sau hơn 40 năm tỵ nạn Cộng sản ở nước ngoài, hiếm hoi và trang nhã, một tác phẩm sử học có tầm cỡ vừa ra mắt cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ: Bảo Đại – Trần Trong Kim và Đế Quốc Việt Nam, Truyền Thống Việt 2017 xuất bản.

Tác giả TS Phạm Cao Dương tốt nghiệp Đại học tại Paris trước 1975, đã từng giảng dạy các trường Đại học công và tư ở Việt Nam Saigon – Huế – Đà Lạt – Cần Thơ – Long Xuyên.  Có tầm cỡ không những vì uy tín hàn lâm khoa bảng của tác giả Phạm Cao Dương, mà theo ý kiến nhiều bạn đọc, do số lượng trang sách và tài liệu đồ sộ, từ trang 1 đến trang 782.

Thanh tân, duyên dáng, mở đầu tác phẩm là phần Mục lục và Phụ lục thênh thang mở rộng nối dài từ trang 13 đến trang 23 như long trọng chào đón hai nhân vật lịch sử: Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim. Trong số 10 bộ trưởng Nội Các Trần Trọng Kim, nơi trang 26 là hình chụp lại từ Trung Bắc Chủ Nhật ba vị bộ trưởng Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Hồ Tá Khanh. Riêng vị bộ trưởng thứ tư, vì hình chụp lại không rõ nét, hơn nữa không được tác giả giới thiệu (légende) như ba vị bộ trưởng trên, người điểm sách hôm nay xin kính cẩn nhận lỗi vì sự thiếu sót ngoài ý muốn.

Cũng là bộ trưởng đương thời, nhưng trang hình kế tiếp (trang 27), bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn “một mình một chiếu thảnh thơi ngồi” được tác giả giới thiệu cách riêng: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn, người đã đặt nền tảng cho chương trình Trung học Việt Nam.

Phần kết thúc từ trang 735 đến trang 753: Sách Báo Tham Khảo, cuối cùng với hai trang Vài Hàng Tác Giả Phạm Cao Dương.

Đến đây, xin giới thiệu thêm về trang 735: Tài Liệu Tham Khảo Chọn Lọc: Tạp Chí.

Mười lăm tờ báo gọi là chọn lọc, liệt kê theo vần ABC, mở đầu với hai tờ báo Bình Minh, Chính Nghĩa cuối cùng với Việt Học, Xưa và Nay. Mười lăm tờ báo thấy có đủ: tạp chí xuất bản tại Hà Nội trước năm 1945 như Tri Tân, Thanh Nghị, Trung Bắc Chủ Nhật.  Có những tờ báo tỵ nạn Cộng sản Hà Nội sau 1975, bốn mươi năm rồi vẫn thủy chung một tấm lòng, một lý tưởng. Có những tờ báo giáo điều Mát-xit như Cứu Quốc hay xanh vỏ đỏ lòng như Nghiên Cứu Lịch Sử.

Gọi là lịch sử, nhưng không phải thứ lịch sử như chúng ta hiểu biết. Trái lại, một thứ lịch sử đã bị hoen ố nhào nặn đúng khuôn mẫu “Đảng Ta”. Còn lại duy nhất tờ báo bơ vơ lạc lỏng thuộc ngoại vi phe ta: tờ Đoàn Kết. Paris.

Danh sách gọi là chọn lọc, 15 tạp chí có tên mà không có họ, trình bày đơn giản: Ngày Nay, Người Việt… Không được giới thiệu rõ ràng căn cước, lý lịch, xuất xứ để độc giả dễ dàng nhận diện.

Cũng là Ngày Nay nhưng trước sau có hai tờ Ngày Nay khác nhau: tờ Ngày Nay phát hành tại Hà Nội trước năm 1945, Chủ nhiệm Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và tờ Ngày Nay tỵ nạn Cộng sản, Chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Linh vừa mới qua đời. Cùng một trường hợp tương tự, hai tờ báo khác nhau: tờ Đông Pháp (sách ĐQVN ghi Đông Phát, Phát với chữ T sau cùng, e rằng không đúng) và Đông Pháp Thời Báo về sau đổi tên Đông Pháp nhật báo phổ biến sâu rộng Huế – Hà Nội – Saigon…

Tạp Chí trùng tên nhưng khác họ như trên, bạn đọc và tác giả chọn tờ nào đây?

Tài Liệu Tham Khảo Chọn Lọc.

Nói vậy hình như không phải vậy. Có chọn mà không lọc. Vì rằng đọc tới đọc lui, trên dưới thấy lóc cóc, lọc cọc báo này báo kia lẫn lộn hơi nhiều. Mới nhìn qua hình như vui vẻ cả làng, đồng bào đồng chí, đồng sàng đồng tịch. Muốn vậy nhưng không được như vậy. Bốn mươi năm tỵ nạn CS, phân biệt rõ ràng. “Khế ngọt”, khế chua, Quốc gia Cộng sản không lẫn lộn!

Đồng sàng dị tịch, đồng sàng dị mộng là chuyện dứt khoát hiễn nhiên, không những tại nước ngoài mà cả trong nước “Đảng Ta” đang kêu gọi, hô hào đoàn kết, “hoành tráng đoàn kết”, đại… đại… đại đoàn kết.

Đến đây, nhớ lại bức tường Bá Linh hồi còn đóng trụ, đóng chốt trên thế giới Tây phương gần gũi mà xa vời Cộng sản  Mát-xit Mạc Tư Khoa. Một số người gọi là trí thức tiến bộ, cấp tiến-cấp tiền, lâu lâu đồng ca đồng tấu “sống chung hòa bình”. Trong số các nhà “trí thức nhân dân” này phải kể trước tiên khoa học gia hàng đầu, triết gia triệt học Bertrand Russell hơn một lần được nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tặng bằng tưởng lệ xứng đáng:

Ông bênh Việt Cộng ồn ào

Nhưng ông hiểu chúng chút nào cho cam

Tuổi ông ngót nghét một trăm

Nhưng thua chú bé mười lăm đói gầy

Về môn Cộng sản học này đây

Sống Chung Hòa Bình. Hòa Bình ai mà không muốn, không đợi không chờ.

Hòa bình thì ô-kê-xa-lem nhưng còn sống chung với các đồng chí Mát-xit giáo điều thì xin miễn, xin can: “Ai can du – Ai xin du, du tôn mi – du lai mi”.

Mấy mươi năm đủ rồi, nghe mãi khộ lắm.

 

Nói qua rồi nói lại cho công bằng.

Hết danh sách chọn lọc vừa được chiếu cố, đọc thêm mấy trang tiếp theo, thấy có phần khác hơn. Tài liệu tham khảo từ trang 735 đến trang 753 dài dài sách báo chữ nghĩa!

Lướt qua gần 20 trang tham khảo, cảm hứng tự nhiên của người đọc là khâm phục ngợi khen tài liệu ngút ngàn dồi dào phong phú tỏ rõ công trình sưu tầm vượt mức của tác giả.

Muốn biên khảo lịch sử xa xưa phải trở lại nguồn gốc ban đầu vượt không gian thời gian hai ba thế kỷ trước là chuyện thông thường. Nhà biên khảo vì vậy rất cần tài liệu, càng nhiều càng tốt. Nhưng cẩn thận, lỡ gặp loại tài liệu vô đầu vô vĩ, vô căn vô đế! Loại tài liệu này, dù đông đảo, đông đặc hàng chục hàng trăm tờ, có cũng như không, có đó mà không đó. Thấy rất nhiều, ngó lại chẳng bao nhiêu: xin nhại lời thơ Xuân Diệu (1)

Tài liệu, tư liệu rất cần để biên khảo. Đúng như vậy. Nhưng cần thiết và quan trọng hơn là nhận xét, thẩm định tài liệu để biết rõ giá trị, rồi đây tác giả sẵn sàng xử dụng và khai thác.

Thời cuộc Việt Nam biến thiên biến động từ năm 1945 đến nay đã nảy sinh nhiều, rất nhiều tài liệu bon chen ngụy tạo man trá do Trung tâm này, Viện nghiên cứu nọ thi đua công tác lập công phổ biến.

Xin được nêu lên ví dụ kiểm chứng.

Một bản văn hay tờ giấy viết bằng chữ Quốc ngữ, thứ chữ Quốc ngữ theo vần La- tin ABC chúng ta đang đọc, đang viết ngày nay, bổng nhiên được “nhà sử học” hô hoán huyển hoặc là tài liệu mới khám phá, tìm thấy tại nhà ai đó, ông bà tổ tiên ngày trước để lại, xa xưa hai ba trăm năm, thời đó chỉ có chữ Hán chữ Nôm mà thôi. Có phải đây là tài liệu lịch sử, có phải đây là sử liệu cần thiết không?

Chưa hết! Sưu tầm tài liệu (documentation) xong rồi, công việc tiếp theo là phân tích, thẩm định và diễn dịch tài liệu (analyse et interprétation): ánh sáng hướng dẫn công việc biên khảo thành tựu đến nơi chốn. Công việc này, rất tiếc chưa được nhìn thấy đầy đủ trong tác phẩm.

Đế quốc Việt Nam, tác phẩm đồ sộ vừa đến tay bạn đọc. Tác giả một mình vừa chống vừa chèo, có khi nhớ việc này quên việc khác. Cuốn sách có lẽ vì vậy thiếu mất đoạn kết: nhận định, nhận xét về hai nhân vật thời cuộc, Thủ tướng Trần Trọng Kim  – Hoàng Đế Bảo Đại.

Nhận được sách kèm theo lá thư ngắn, thân hữu thân tình thật cảm động. Trả lời xong mấy ngày sau, lại điện thoại tỏ bày ý kiến về cuốn sách vừa đọc xong. Hẹn rằng sẽ dành thời giờ đẹp nhất trong ngày để viết: “Anh chưa viết, tôi viết tiếp thêm” cái phần độc giả đang chờ đợi. Gọi đây chút thân tình độc giả và tác giả góp phần chung sức, cùng nhau tìm hiểu lịch sử nước nhà giai đoạn chúng ta vừa trải qua. Ước mong, hy vọng rồi đây thế hệ trẻ nối tiếp sẽ có thêm cơ hội tìm hiểu lịch sử Việt Nam gần sự thật hơn.

Đọc Đế Quốc Việt Nam đoạn viết về Thủ tướng Trần Trọng Kim, nhớ lại câu chuyện lịch sử được nghe, mấy năm sau thấy ghi lại trong tác phẩm Duy Văn Sử Quan: Mạc Địch Hoàng Văn Chí, Cành Nam Xuất Bản, Arlington VA 1990.

Tài sao nhà giáo Trần Trọng Kim có mặt tại Tân Gia Ba thời gian cuộc đảo chánh Nhật Bản 9-3-45 xảy ra?

Đây lời tác giả Hoàng Văn Chí:

“Sau cuộc đảo chính người Nhật giao thiệp với nhiều nhóm quốc gia, nhiều nhân vật chính trị đứng lên thành lập chính phủ nhưng không có kết quả. Lúc bấy giờ người Nhật nghĩ đến cụ Dương Bá Trạc đang ở Singapore và có ý định đưa cụ về Việt Nam vì cụ là nhà lão thành Cách mạng có bí mật giao thiiệp với Nhật. Nhưng chẳng may, Cụ Dương bị bệnh nặng vừa qua đời.

Vì không còn ai khác, nên Nhật phải đưa Cụ Trần Trọng Kim cũng ở Singapore với Cụ Dương. Chúng ta đều biết Cụ Trần là một học giả và những sách Cụ viết như cuốn Nho Giáo, Việt Nam Sử Lược là những sách tra cứu rất công phu. Nhưng Cụ Trần chẳng hề tham gia chính trị, đặc biệt Cụ không giao thiệp với Nhật.

Chứng cớ: Trước đấy hai năm, Cụ Trần được Toàn quyền Decoux ban thưởng Légion d’Honneur (Bắc đẩu bội tinh).

Nhân bàn về vụ này, tùy viên văn hóa Nhật ở Hà Nội là Komatsu nói với chúng tôi, bằng tiếng Pháp: “C’est la Légion du Déshonneur !”(theo lời ông Matsuhita trùm mật vụ đảng Hắc Long)

Việc ấy chứng tỏ Cụ chẳng có uy tín đối với Nhật.

Nhưng thử hỏi: Tại sao Nhật lại mang Cụ sang Singapore?

 Xin kể từ đầu:Cụ Dương làm cách mạng, Cụ Trần viết sách, nhưng hai Cụ giống nhau ở điểm: hai Cụ là nhà Nho rất đứng đắn, nhưng không sống khổ hạnh theo kiểu Thầy đồ. Các Cụ vẫn đầy đủ đạo đức, nhưng biết sống một cuộc đời đầy đủ, theo tác phong Nguyễn Công Trứ:

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự , anh hùng nhớ chăng?

Mấy Cụ thường làm thơ rồi mang xuống xóm Khâm Thiên nhờ mấy “ả đào”ngâm cho các Cụ thưởng thức. Rồi một hôm, Pháp định bắt Cụ Dương, vì quả thực Cụ có giao thiệp với Nhật. Nhưng vì Cụ ở Hàng Ngang- phố buôn bán tấp nập nhất ở Hà Nội, cụ Bà có cửa hàng bán vải ở đây – nên Pháp biết rõ thời khóa biểu của Cụ, đợi tối đến, Cụ xuống Khâm thiên là phố cô đầu, mới xông vào bắt. Nhưng các nhà cô đầu đều có cổng hậu, để đề phòng những điều bất trắc , có người đến đánh ghen thì khách làng chơi có lối thoát.

Đúng như vậy. Khi Mật thám Pháp xông vào cửa trước thì Cụ Dương thoát bằng cổng hậu, chạy ba bước đến Trại Hiến Binh Nhật, ở ngay đầu đường. Cụ Trần hốt hoảng chạy theo Cụ Dương, và Cụ Dương lôi Cụ Trần vào Trại Hiến Binh. Vì vậy nên Nhật đưa hai Cụ đi Bangkok, rồi chuyển sang Singapore để khỏi bị Pháp bắt.

(Đoạn trên, viết theo lời tường thuật của một cụ khác trong bộ ba mấy cụ hay xuống Khâm thiên.

Nhưng hú vía, vì hôm ấy bận, không cùng với đi với hai cụ Dương và cụ Trần (2).

Câu chuyện chuyển tiếp ra sao, biết rõ thêm, thử trở lại với nguyên Thủ tướng Trần Trọng Kim trong Hồi ký “Một Cơn Gió Bụi” ( Ấn Bản Vinh Sơn 1949):

(…)Lúc bấy giờ Nhật có đến bảo tôi: Quân đội Nhật còn trách nhiệm (do Đồng Minh giao cho) giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay. Nếu Chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình, còn nghĩa lý gì nữa và lại còn mang tiếng cõng rắn cắn gà nhà. Tôi từ chối không nhận.

Tác giả Hoàng Văn Chí nhận xét. (Duy Văn Sử Quan Tr. 160-171).

Đoạn văn kể trên chứng tỏ mấy điều:

a.- Cụ sợ mang tiếng là cõng rắn cắn gà nhà, nhưng ai cũng biết Nhật tự ý tiến vào Việt Nam chẳng nhờ ai cõng họ cả.

b.- Vì không nghiên cứu chủ nghĩa Cộng sản, Cụ Trần biết Việt Minh là Cộng sản, nhưng Cụ không lường được những tai hại mà Cộng sản sẽ gây cho dân tộc.

c.- Cụ không biết rằng Việt Minh được thể, vì Việt Minh khoác lác tự nhận là Đồng Minh của Đồng Minh, nên mọi người yên trí một khi Đồng Minh đã thắng Nhật thì tất nhiên Đồng Minh sẽ giao Chính quyền cho Việt Minh.

Giá Cụ để yên cho Nhật dẹp Việt Minh thì tất nhiên trước khi nổ sung, Nhật đã công bố các bức công điện của Đồng Minh giao cho Nhật nhiệm vụ ấy. Và như vậy, quốc dân sẽ nhận thấy Việt Minh chỉ khoác lác bịp bợm, chẳng phải là Đồng Minh của Mỹ và các đàng phái Quốc gia sẽ vững tâm chiến đấu chống Việt Minh.

Hồi ấy Việt Minh không đủ sức để chống Nhật mà nếu Nhật không tiêu diệt được Việt Minh thì ít nhất Nhật cũng giữ được Hà Nội để mấy ngày sau khi phái đoàn Mỹ sang, có đại diện của Chính phủ Quốc gia ngay tại Thủ đô để đón tiếp. Thời cuộc có lẽ đã thay đổi hẳn. Cộng sản sẽ không nắm được chính quyền năm 1945 (3).

Nhận xét về Nội các Trần Trọng Kim, tác giả Hoàng Văn Chí viết thêm về bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn như sau.

Ông Hoàng Xuân Hãn có 4 anh em được Pháp cho toàn phần học bổng Trường Albert Sarraut Hà Nội và sau đấy được toàn phần học bổng du học Pháp.

Pháp đền ơn cho ông bố là Cụ Tú Vận  thầu cơm cho học sinh nội trú trường Collège de Vinh và đồng thời làm chỉ điểm cho Pháp trong vụ sinh viên bãi khóa. Tội nghiệp ông Hãn không biết tội của bố mình nên cứ ráng làm thân với Việt Cộng nhưng Việt Cộng chỉ cho ông chạy vòng ngoài vì Cộng sản không tha thứ tội “tổ tông”.

Và tiếp theo, tác giả ghi chú thêm:

Năm 1956 chúng tôi làm  giám đốc Sở Đúc Tiền, ngồi một lô dành riêng cho nhân viên Bộ Tài Chánh ở nhà Hát Lớn trong buổi Đại hội Văn nghệ. Nhìn xuống parterre thấy hai cựu bộ trưởng Phan Anh và Hoàng Xuân Hãn chạy lùng quanh bắt tay mọi người, Phạm Văn Đồng nói: Thằng Phan Anh thì dùng được, còn thằng Hoàng Xuân Hãn thì không (S đ.d Tr. 170).

Nhận định về Cựu Hoàng Bảo Đại trong bối cảnh lịch sử cuộc Đảo Chánh 9-3-1945, có lẽ không ai bằng Trần Trọng Kim, người được chính Cựu Hoàng Bảo Đại mời làm thủ tướng lúc bấy giờ.

Trực tiếp, rõ ràng hơn, xin trích dẫn một đoạn ngắn trong Hồi ký Một Cơn Gió Bụi: Lệ Thần Trần Trọng Kim (Vĩnh Sơn Xuất Bản – Ấn bản 1969):

-Huế 1945:

Từ trước tôi không biết Vua Bảo Đại là người như thế nào vì trong thời bảo hộ của nước Pháp, hình như Ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng 7 tháng 4 tôi vào yết kiến, thấy Ngài có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đứng đắn. Ngài nói:

Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta để cho quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong Hiệp ước năm 1884 không còn hiệu lực nữa nên Bộ Thượng Thư đã tuyên hủy Hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.

(…) Vua Bảo Đại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới để lo việc nước…

Tôi thấy Vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế bèn tâu rằng:

  • Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước thì dù sao tôi cũng hết sức.

-Nam Kinh- Hương Cảng 1946

(…) Hôm sau tôi gặp ông Bảo Đại, lời đầu tiên ông nói: chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.

Tôi đem tình thật trình bày rằng:

Ngài không về ở Nam Kinh là phải lắm vì xem tình thế nước Tàu đang có nạn Cộng sản, chính phủ Tàu còn gỡ không ra, làm sao giúp chúng ta được. Tuy bề ngoài thì họ đối đãi tử tế và nói những chuyện giúp đỡ nọ kia nhưng sự thật thì họ không thể giúp ta được việc gì ra trò đâu. Vậy chúng ta cứ đứng ngoài xem tình thế ra sao rồi định liệu.

Ông Bảo Đại cũng đồng ý như vậy. Ông lại nói thêm: chưa biết chừng bọn Tưởng Giới Thạch cũng phải cuốn gói chạy… một ngày nào đây. Ấy là câu chuyện nói đầu tháng 8 năm 1946 mà sau này hóa ra đúng thật.

 

Hình như rằng đến một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, sau khi đã học hỏi hiểu biết khá nhiều về môn Sử, với tài liệu chồng chất lâu ngày sưu tầm được, đến lúc tự thấy mình chín muồi với lịch sử, một số người có ý nghĩ hay dự định viết lịch sử nước nhà.

Nghĩ rằng viết được, biên khảo được vì chính đương sự đang sống thật vào thời điểm đó, gián tiếp hay trực tiếp chứng kiến sự kiện xảy ra. Ước muốn viết lách liền liền này, các nhà sử học gọi là lịch sử cấp thời (Immediate history).

(Histoire immédiate: cập thời hay cấp thời, hai từ Hán-Việt đồng dạng có nghĩa gần gần giống nhau).

Lịch sử cấp thời! Nghĩ như vậy, dự định như vậy, nhưng bắt tay vào việc bổng nhiên cảm thấy ngại ngùng rồi bỏ cuộc. Hay có khi làm được nửa chừng, bổng nhiên thấy bất cập, khó khăn, cuối cùng đành bỏ ngang, bỏ dỡ.

Tại sao vậy! Một vài sự việc, sự kiện xa gần xảy ra, chưa được biết rõ ràng, nhiều tài liệu liên hệ còn ẩn kín trong văn khố nhà nước hay tủ sách tư gia, tự mình chưa tiếp cận được! Làm sao đây, chờ đợi đến bao giờ!

Trong tầm nhìn lịch sử viễn lai hay viễn cận, rất nhiều khi tài liệu sưu tầm được chỉ có giá trị như mẩu tin báo chí hàng ngày, những tiết mục như phỏng vấn, phóng sự, thời sự thông tin đọc rồi quên đi không nhớ; những tin tức chợt đến rồi chợt đi (4).

Huế năm 1935

Năm 1935 hay 1936, tám mươi năm qua rồi không nhớ rõ, cậu bé học trò trường Đông Ba về sau đổi lại  trường Gia Hội. Lệ thường trong giờ học, cửa trường đóng kín không ai ra vào, bải cỏ sân trường vừa dài vừa rộng, vắng vẻ lặng im.

Sáng hôm ấy, đang ngồi trong lớp nhìn ra ngoài bổng thấy từ hành lang phía préau (sân chơi) đi lại (4). Năm, sáu, bảy, tám người nghiêm trang kính cẩn đi sau một người khác, cao lớn mặc áo vàng, đội khăn vàng, vào thăm lớp học. Cả lớp, học trò đứng dậy nghiêm trang. Còn nhỏ quá không biết ai với ai, chỉ chăm chú nhìn riêng một người là Vua Bảo Đại mặc áo vàng. (Thầy giáo kính cẩn không dám gọi tên, trước sau chỉ nói “Ngài Ngự”).

Ngài Ngự đứng đó, lướt nhìn lớp học nói chuyện qua lại với mấy người khác trong phái đoàn. Cuộc viếng thăm lớp học ngắn ngủi không tới 15 phút, xong Ngài Ngự đi thăm lớp khác.

Lần đầu tiên cậu bé nhìn thấy tận mắt Cựu Hoàng Bảo Đại. Năm sau, lên lớp trên, thời gian này hàng năm có lễ Vạn Thọ (lễ sinh nhật Vua Bảo Đại), học trò các lớp trên, tất cả được thầy giáo đưa vô Thành Nội. Qua khỏi cửa Thượng Tứ thẳng đường đến quảng trường Ngọ Môn, sân cỏ và lối đi rộng mênh mông cậu bé học trò trước nay chưa từng thấy. Đông đủ học sinh nam nữ các trường Trung, Tiểu học thành phố Huế.

Nhà Vua từ Điện Thái Hòa đến lầu Ngọ Môn, từ trên bao lơn nhìn xuống đám học sinh. Ngài Ngự vẫy tay chào. Giây phút chờ đợi náo nhiệt tưng bừng đã đến: mọi người vừa phất cờ vừa hô to Hoàng Đế Vạn Tuế … Vạn… Vạn Tuế.

Thời cuộc đổi thay, mấy năm sau ngày 13 -8-1945, cũng tại quảng trường Ngọ Môn, cũng vị vua cũ mới đây Hoàng Đế Bảo Đại. Lần này cảnh trí, cảnh tình khác hơn. Tâm tình xúc động lắng sâu, đám đông quần chúng từ sân cỏ nhìn lên, lặng yên chờ đợi, biến cố lịch sử lớn lao hình như sắp xảy ra, chuyển động theo chiều hướng nào, tương lai chưa biết được.

Trong đám đông đảo đồng bào bất ngờ gặp gỡ tập trung, có cậu bé hoc trò mười năm trước đây, từ hàng ghế đầu được thấy tận mắt Ngài Ngự.

Cậu bé học trò năm nào hồn nhiên ngây thơ, năm nay học sinh trường Khải Định, khôn lớn hơn, cuộc đời vui buồn lẫn lộn, lại sắp được thấy Ngài Ngự lần nữa. Nhưng sao ấy, tự nhiên cảm thấy cách xa vời vợi. Từ lầu Ngọ Môn, Hoàng Đế Bảo Đại qua chiếu thoái vị, sắp có lời tạm biệt quốc dân đồng bào.

Chiếu Thoái Vị, bản văn lịch sử đất nước Việt Nam, sau này tác giả Histoire du Vietnam, Philippe de Villers, học giả người Pháp thông thạo tiếng Việt, cho là tuyệt tác văn chương và tư tưởng (5).

 

Ngược thời gian 2 năm trước đó, vua Khải Định vừa mới băng hà.

Không chờ đợi, không do dự, tức thời, kịp thời chính phủ Paris ra lệnh Phủ Toàn Quyền Đông Dương phái đại diện vào Huế ký kết liền Hiệp Ước mới 25-11-1925, đồng thời dự đám tang vua Khải Định.

Với Hiệp Ước tân tạo này, chủ quyền Việt Nam chẳng còn gì! Nay mai đây, Vua Bảo Đại hồi loan chấp chính, quyền hành-quyền bính Nhà Vua và chính phủ Nam Triều (Gouvernement Annamite) chỉ còn là hư vị tượng trưng: cấp thưởng phẩm  hàm tước vị người sống, ban sắc chỉ phong thần kẻ khuất mặt!

Hoàn cảnh chính trị bi đát này, sau ngày hồi loan chấp chính, vị vua trẻ được Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài báo cáo rõ ràng.

Như trước đây, năm 1922 tại Pháp vua Khải Định đặt vấn đề Hiệp ước Bảo hộ 1884. Năm 1938 trở lại Pháp, vua Bảo Đại thêm lần nữa đề nghị trở lại Hiệp ước 1884.

Theo tinh thần hiệp ước này, tuy là quốc gia được bảo hộ (Protectorat), ngoài chủ quyền quốc phòng- ngoại giao do người Pháp nắm giữ, về nội trị Việt Nam còn đầy đủ chủ quyền gần như nguyên vẹn.

Việc điều đình với Bộ Trưởng Thuộc Địa không kết quả, Vua Bảo Đại vội vàng hồi hương: Âu Châu đại chiến sắp bùng nổ.

Cho đến ngày nay, mấy ai còn biết, còn nhớ lại giai đoạn lịch sử vừa qua. Bề ngoài tuy có vẻ ham mê giải trí thể thao, săn bắn hay lái máy bay hơn hoạt động chính trị và vì thế nhiều lần gặp phải dư luận chỉ trích.

Gặp gỡ, điều đình với Bộ trưởng Thuộc Địa Georges Mandell không có kết quả, vua Bảo Đại nhớ, nhớ mãi Hiệp ước 1884 cho đến ngày …

Năm 1939, Đông Dương có Toàn Quyền mới Georges Catroux. Thời cơ đến, Vua Bảo Đại trở lại vấn đề, vừa gặp gỡ vừa có văn thơ nhắc nhở.

Bức thơ đề ngày 13-9-1939 gởi Toàn Quyền Georges Catroux lưu trữ tại Văn khố Aix- En- Provence chứng tỏ sự kiên nhẫn vận động của Vua Bảo Đại khi bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi (Văn thư ngày 13-9-1939 đính kèm).

Cựu Hoàng Bảo Đại từ trần ngày 31-7-1999. Đến tháng 7 năm nay vừa đúng 20 năm. Đọc Phạm Cao Dương, Đế Quốc Việt Nam, nhớ người thiên cổ nhiều lần được hầu chuyện. Nhân dịp này, người viết xin trở lại đoạn văn cũ, bài viết năm xưa, Tiếng Sông Hương Tiễn Đưa Cựu Hoàng Bảo Đại.

“Tổ tiên hiển hách hơn 400 năm dựng nghiệp tại Thuận Hóa- Phú Xuân, mở mang bờ cõi phương Nam, hình thành một nước Việt Nam văn hiến thịnh đạt.

Hoàng đế Bảo Đại cởi hạt về trời, cố đô Huế mất đi một phần đích thực của chính mình. Từ Đại Nam Hoàng Đế trong vòng kiềm tỏa ngoại thuộc “Hai mươi năm ở ngôi Vua trải qua bao điều cay đắng” đến Quốc Trưởng một quốc gia tranh đấu lần hồi giành lại độc lập- thống nhất, trước thế lực khống chế khắc nghiệt của các cường quốc đối với thân phận một nước nhược tiểu, định mệnh Cựu Hoàng Bảo Đại gắn liền với những biến cố trọng đại xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Không thành đạt những công việc lớn lao như tiền nhân, Cựu Hoàng Bảo Đại đã để lại nhiều việc làm lịch sử không thể nào không nhắc đến: từ Hội nghị Vịnh Hạ Long đến Thỏa ước Élysée đưa Nam Kỳ Tự Trị trở về quê mẹ Việt Nam, khai dựng nền móng căn bản Quân Đội Quốc Gia cần thiết cho nền tự chủ non trẻ vừa mới thu hồi.

Aura Popularis, thế nhân và thế sự lạnh lùng trớ trêu vô thường, cuộc đời chính trị ngang trái do định mệnh thày lay sắp đặt, vì những mâu thuẫn nội tại và ngoại lai, không thực hiện được nguyện ước đời mình và nguyện vọng dân chúng chờ đợi, hình như một mình Cựu Hoàng Bảo Đại phải gánh chịu tất cả thế tình về những biến cố tang thương xảy ra trên đất nước nửa thế kỷ qua.

Điều đáng ghi lại trong cuộc đời vị Hoàng Đế cuối cùng của Triều Nguyễn là cùng với tấm lòng nhân hậu, trước sau Cựu Hoàng Bảo Đại đã bảo toàn được nhân cách cao thượng và danh dự xứng đáng với địa vị mình.

Ngoài tầm tay khả vọng, không làm được gì thêm cho xứ sở, với nhân cách lương thiện kẻ sĩ Cựu Hoàng Bảo Đại nhất quyết không làm gì phương hại đến Quốc gia Dân tộc đã quá đau khổ vì chiến tranh và bạo lực.

Cô đơn trong cuộc đời chính trị trong những giờ phút nguy khốn lịch sử, cô đơn trong những năm tháng suy tư buồn thảm cuộc đời lưu vong, Cựu Hoàng Bảo Đại lặng lẽ chịu đựng, tiếp tục vát cây thánh giá nặng trĩu oan khúc đến cuối cuộc đời, thủy chung giữ được cái tâm trong sáng viên mãn cùng với tấm lòng yêu nước thiết tha.

Tám mươi ba tuổi vĩnh biệt quê hương và gia đình, xa lìa nhân tình thế thái và những xao động đam mê vì cơn lốc chính trị nảy sinh thêm thành kiến, không còn phải nghe lời bình phẩm thị phi khắc khe xuất xứ từ mọi hướng đối phương, từ nay Cựu Hoàng Bảo Đại tìm thấy sự bình an thanh thoát hương thơm đất nước đời đời…”

Ghi Chú

(1).-Bài thơ Yêu, Xuân Diệu-Thơ Thơ phát hành gần cuối thập niên 1930.

Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu

Người ta phụ, hoặc thờ ơ chẳng biết

………………………..

Họ lạc lối u sầu mù mịt

Những người si theo dõi dấu chân yêu

Và cảnh đời là sa mạc vô liêu

Và tình ái là sợi dây quấn quit

………………………….

Yêu là chết trong lòng một ít

(2) Với Hiệp Ước tân tạo này, chủ quyền Việt Nam chẳng còn gì nay mai đây Vua Bảo Đại hồi loan chấp chính, quyền hành, quyền bính nhà vua và chính phủ Nam Triều (Gouvernement Annamite) chỉ còn là hư vị tượng trưng: thưởng cấp phẩm  hàm tước vị  cho người sống ban sắc chỉ phong thần cho kẻ khuất mặt.

Hoàn cảnh chính trị bi đát này sau ngày hồi loan chấp chính vị vua trẻ được Thượng Thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài báo cáo rõ ràng.

Như trước đây 1922 tại Pháp vua Khải Định đặt vấn đề Hiệp ước bảo hộ 1884, năm 1938 trở lại Pháp vua Bảo Đại thêm lần nữa đề nghị trở lại Hiệp ước 1884. Theo tinh thần hiệp ước này, tuy là quốc gia được bảo hộ (Prototectorat) ngoài chủ quyền quốc phòng, ngoại giao do người Pháp nắm giữ về nội trị Việt Nam còn đầy đủ chủ quyền gần như nguyên vẹn.

Việc điều đình với Bộ Trưởng Thuộc Địa không kết quả, Vua Bảo Đại vội vàng hồi hương, Âu Châu đại chiến sắp bùng nổ.

Cho đến ngày nay mấy ai còn biết còn nhớ lại gia đoạn lịch sử vừa qua. Bề ngoài tuy tỏ vẻ ham mê giải trí thể thao, săn bắn hay lái bay hơn hoạt động chính trị và vì thế nhiều lần bị dư luận chỉ trích. Sau lần gặp gỡ điều đình với Bộ trưởng Thuộc Địa Goege Mandell không có kết quả vua Bảo Đại nhớ mãi Hiệp ước 1884.

Nắm 1939 Đông Dương có quan Toàn Quyền mới George Catrux. Thờ cơ đến Vua Bảo Đại trở lại vấn đề vừa gặp gỡ vừa có văn thơ nhắc nhở. Bức thơ đề ngày 13-9-1939 gởi Toàn Quyền George Catrux lưu tại Văn khố Aix En Provence chứng tỏ sự kiên nhẫn vận động của Vua Bảo Đại khi bổ phận và trách nhiệm đòi hỏi.

Cựu Hoàng Bảo Đại từ trần ngày 31-7-1999 đến tháng 7 này vừa đúng 20 năm. Đọc Phạm Cao Dương, Đế Quốc Việt Nam nhớ người thiên cổ nhiều lần được hầu chuyện, nhân dịp này người viết xin trở lại đoạn văn cũ bài viết năm xưa Tiếng Sông Hương: Tiễn đưa Cựu Hoàng Bảo Đại:

“Tổ tiên hiển hách hơn hách hơn 400 năm dựng nghiệp tại Thuận Hóa- Phú Xuân, mở mang bờ cõi phía Nam hình thành một nước Việt Nam Văn hiến thịnh đạt. Hoàng đế Bảo Đại cởi hạt về trời cố đô Huế mất đi một phần đích thực của chính mình

Từ Đại Nam Hoàng Đế trong vòng kiềm tỏa ngoại thuộc “Hai mươi năm ở ngôi Vua trải qua bao điều cay đắng” đến Quốc Trưởng một Quốc gia tranh đấu lần hồi giành lại độc lập và thống nhất trước thế lực khống chế khắc nghiệt của các cường quốc đối với thân phận một nước nhược tiểu định mệnh Cựu Hoàng Bảo Đại đã gắn liền với những biến cố trọng đại xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Không thành đạt được những công việc lớn lao như tiền nhân Cựu Hoàng Bảo Đại đã để lại những việc làm lịch sử không thể nào không nhắc đến: từ Hội nghị Vịnh Hạ Long đến Thỏa ước Élysée đưa Nam kỳ tự trị trở về quê mẹ Việt Nam, khai dựng nền móng căn bản quân đội quốc gia cần thiết cho nền tự chủ non trẻ vừa mới thu hồi.

Aura Popularis, thế nhân và thế sự lạnh lùng trớ trêu vô thường, cuộc đời chính trị ngang trái do định mệnh thày lay sắp đặt, vì những mâu thuẫn nội tại và ngoại lai không thực hiện nguyện ước đời mình và nguyện vọng dân chúng đang chờ đợi, hình như một mình Cựu Hoàng Bảo Đại phải gánh chịu tất cả thế tình về những biến cố tan thương xảy ra trên đất nước từ nửa thế kỷ qua.

Điều đáng ghi lại trong cuộc đời vị Hoàng Đế cuối cùng của Triều Nguyễn là cùng với tấm lòng nhân hậu trước sau Cựu Hoàng Bảo Đại đã bảo toàn được nhân cách cao thượng và danh dự xứng đáng với địa vị của mình.

Ngoài tầm tay khả vọng, không làm được gì thêm cho xứ sở, với nhân cách lương thiện kẻ sĩ Cựu Hoàng Bảo Đại nhất quyết không làm gì phương hại đến Quốc gia Dân tộc đã quá đau khổ vì chiến tranh và bạo lực.

Cô đơn trong cuộc đời chính trị trong những giờ phút nguy khốn của lịch sử, cô đơn trong những năm tháng suy tư buồn thảm cuộc đời lưu vong, Cựu Hoàng Bảo Đại lặng lẽ chịu đựng, tiếp tục vát cây thánh giá nặng trĩu oan khúc đến cuối cuộc đời, thủy chung vẫn giữ được cái tâm trong sáng viên mãn cùng với tấm lòng yêu nước thiết tha.

Tám mươi ba tuổi, vĩnh biệt quê hương và gia đình, xa lìa nhân tình thế thái và những xao động đam mê vì cơn lốc chính trị nảy sinh thêm thành kiến, không còn phải nghe lời bình phẩm thị phi khắc khe xuất xứ từ mọi hướng đối phương, từ nay Cựu Hoàng Bảo Đại tìm thấy bình an thanh thoát hương thơm đất nước đời đời…”

Ghi Chú

(1)Bài thơ Yêu. Xuân Diệu- Thơ Thơ phát hành gần cuối thập niên 1930.

Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu

Người ta phụ, hoặc thờ ơ chẳng biết

………………………..

Họ lạc lối u sầu mù mịt

Những người si theo dõi dấu chân yêu

Và cảnh đời là sa mạc vô liêu

Và tình ái là sợi dây quấn quít

………………………….

Yêu là chết trong lòng một ít.

 

(2) Có lẽ vì lý do tế nhị, tác giả Hoàng Văn Chí không nói rõ tên người thứ 3 trong bộ 3 mấy cụ là ai. Theo Tiếng Sông Hương được biết, người thứ 3 ấy không ai khác hơn là cụ Lê Dư, nhạc phụ tác giả Hoàng Văn Chí.

Cụ Lê Dư, hiệu Sở Cuồng có hai ái nữ. Người chị đầu, Lê Hồng Phấn tức bà Hoàng Văn Chí (tác giả), người em, nữ sĩ Lê Hằng Phương, vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan.

Là chiến sĩ Phong Trào Đông Du, Cụ Lê Dư còn tham gia công tác Đông Kinh Nghĩa Thục.Từng sang Nhật cùng với đoàn du học sinh, Cụ Lê Dư hoạt động tại Nhật cho đến khi chính phủ Đông Kinh ra lệnh trục xuất tất cả du học sinh Việt Nam cùng một lúc với các nhà cách mạng. Rời Nhật Bản, Cụ sang Trung Hoa hoạt động một thời gian trước khi về Hà Nội. Hợp tác với người Pháp làm việc tại Phủ Toàn Quyền, Phòng Chính Trị. Có lẽ nhờ làm việc tại Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền, Cụ Lê Dư biết rất nhiều việc cơ mật, nhiều chuyện “quốc sự” người ngoài không thể nào biết được.

 

(3)Trong thời gian Tiếng Sông Hương còn hoạt động, người viết có dịp đi nhiều nơi tiếp xúc với bạn đọc thân hữu. Một lần ghé lại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, qua người bạn thân Nguyễn Ngọc Bích giới thiệu, chúng tôi đến thăm Cụ Hoàng Văn Chí, tác giả Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, Từ Thực Dân Đến Cộng Sản. Từ đó thỉnh thoảng có dịp lại đến thăm, hầu chuyện cụ, được biết nhiều chuyện xưa tích cũ, rất bổ ích.

Cụ Hoàng Văn Chí biết nhiều chuyện, quen nhiều người trong giới chính trị- văn nghệ Miền Bắc. Mẩu chuyện Thủ tướng Trần Trọng Kim – Đào Duy Anh – Hoàng Xuân Hãn, người viết được nghe Cụ kể, còn mãi trong ký ức. Mấy năm sau, bổng nhiên trở lại khi nhận được sách tặng Duy Văn Sử Quan, xuất bản 2 năm sau ngày Cụ qua đời, tháng 7 năm 1988.

Cựu Hoàng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, tác giả Hoàng Văn Chí, người bạn thân Nguyễn Ngọc Bích: tất cả đều đã qua đời. Riêng người viết lai rai cũng sắp đến ngưỡng cửa 90.

Thiết nghĩ rằng câu chuyện Cụ Hoàng Văn Chí kể lại ít nhiều có tính cách lịch sử. Với dè dặt thường lệ phải có, nhân dịp điểm sách Đế Quốc Việt Nam, người viết cho đăng tải lần này hy vọng góp thêm phần tài liệu lịch sử.

(4)Pierre Goubert: Initiation à L’histoire de la France.

(5)Trường Đông Ba có lẽ là trường tiểu học lớn nhất trong các trường tiểu học ở Huế. Chiếm một diện tích rộng lớn, ngoài 2 dãy nhà song song làm lớp học, nối liền ở giữa là nhà chơi rộng lớn: trời mưa học sinh tụ tập nơi nhà này.

(6)Philippe Devillers: Histoire du Vietnam (Paris. 1952)

Be the first to comment

Leave a Reply