CÂU CHUYỆN BÊN LỀ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM: HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI VÀ TRẦN TRỌNG KIM

CÂU CHUYỆN BÊN LỀ

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM: HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI VÀ TRẦN TRỌNG KIM

Phương Anh Trang

 

Liên tiếp hai tuần lễ, nhiều độc giả điện thoại:

“Trong số báo vừa rồi (ngày 28-4-2017), độc giả thấy tên Đào Duy Anh xuất hiện bên cạnh các nhân vật trong Nội Các Trần Trọng Kim. Tại sao tòa soạn không đăng tiếp thêm về Đào Duy Anh độc giả muốn theo dõi câu chuyện đến hồi kết cục…”

Xin thưa: nhà văn, nhà sử học Đào Duy Anh không liên hệ trực tiếp đến Nội Các Trần Trọng Kim. Người viết vì vậy phải đợi đến hôm nay mới có cơ hội gặp lại bạn đọc qua Chuyện Bên Lề Nội Các Trần Trọng Kim.

Tác giả “Chuyện Bên Lề, cụ Hoàng Văn Chí là tế tử (con rể) cụ Lê Dư.

Cụ Lê Dư, hiệu Sở Cuồng, nhà cách mạng từng hoạt động lâu năm tại Nhật Bản và Trung Hoa. Trở về Hà Nội, cụ Lê Dư làm việc tại Phủ Toàn Quyền Đông Dương- Phòng Chính Trị- đồng thời hợp tác với tạp chí Nam Phong.

Làm việc tại Phòng Chính Trị, cụ Lê Dư biết nhiều việc cơ mật, nhiều chuyện quốc sự, người ngoài không thể nào biết được.

Chuyện Bên Lề dưới đây: A- Đào Duy Anh phản đảng, phản quốc

trích dẫn từ tác phẩm: Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan. (Tr. 165…168) Tủ sách Cành Nam xuất bản, V.A. 1990.

 

(…) Hồi ấy có ba vị lão thành, trước kia đã tham gia Phong trào Duy Tân là các Cụ Hoàng văn Khải ở Thanh Hóa, Cụ Lê văn Huân ở Nghệ An và Cụ Võ Hoành ở trong Nam, đứng lên thành lập Đảng Tân Việt là một đảng quốc gia có xu hướng xã hội và không chủ trương bạo động.

Tân Việt là đảng quốc gia đầu tiên lôi kéo được khá nhiều trí thức, một số là sinh viên đại học. Phong trào đang phát triển mạnh mẽ thì không may bị Tổng Bí Thư Đào Duy Anh mang bán đứng cho Pháp. Từ ngày ấy cho đến năm 1940, giới trí thức Việt Nam không có đảng quốc gia nào lớn mạnh đề gia nhập, nên một số đông theo Cộng sản (1).

Xin kể chuyện Đào Duy Anh phản Đảng Tân Việt, nhưng trước khi nói đến Đào Duy Anh, chúng tôi cần phải nói qua về “Vụ Án Đường Barbier” và Tôn Đức Thắng, vì hai vụ có liên can.

Năm 1937, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền, nên chính sách của Pháp ở Việt nam có đôi phần cởi mở. Pháp thả hết tù chính trị, trong số có Trường Chinh, Phạm văn Đồng. Tuy nhiên có một đảng viên  cộng sản không được thả trước kia bị kết án về tội giết người. Người này có tên Tôn Đức Thắng, bị đày ra Côn đảo về tội giết một đồng chí, ngay tại trụ sở Nam Kỳ bộ Đông Dương Cộng Sản Đảng ở Đường Barbier, Saigon. Tại nơi này có một nữ đồng chí và hai nam đồng chí, một là Tôn Đức Thắng.

Ghen nhau, Tôn Đức Thắng giết tình địch, đốt cháy mặt mũi và mười đầu ngón tay, nhưng Mật Thám Pháp cũng điều tra ra. Vì vậy Tôn Đức Thắng bị coi là “thường phạm” không được Pháp tha về cùng với những “chính trị phạm” khác như Trường Chinh và Phạm văn Đồng. Mãi đến năm 1945, Tôn Đức Thắng mới được Chính phủ Trần Trọng Kim tha về, và năm 1969 lên làm “Chủ tịch bù nhìn”, kế vị Hồ Chí Minh.

Tôn Đức Thắng nguyên là lính thủy trên tàu Aurore của Pháp. Năm 1921, tàu Aurore chở khí giới sang Nga tiếp tế cho nhóm Bạch Nga, đang chiến đấu chống Hồng quân Cộng sản. Khi tàu cặp bến Odessa, trong Hắc Hải, đoàn thủy thủ bị cán bộ Bolshevik tuyên truyền. Một viên đại úy, tên là André Marty ngã theo Cộng sản và khởi loạn, bắt giam thuyền trưởng và bắt tàu quay về Pháp, không giao khí giới cho nhóm Bạch Nga chống Cộng. Vì hành động táo bạo ấy, Cộng sản đề cao André Marty là “Anh hùng Hắc Hải”.

Về tới Pháp, Tôn Đức Thắng cùng nhiều thủy thủ khác của tàu Aurore gia nhập Đàng Cộng sản Pháp. Vì vậy, sau Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng là người có nhiều tuổi đảng nhất, mặc dầu thiếu học và có tiếng là “dê cụ”, Tôn Đức Thắng được đưa lên làm Chủ tịch, kế vị họ Hồ (2).

 

Cũng vì “Vụ án Đường Barbier” mà Đảng Tân Việt vị vỡ lây. Số là Nam kỳ bộ của Đảng Tân Việt cũng tình cờ đặt trụ sở ở Đường Barbier là một con đường hẻo lánh, nên khi xe Mật Thám Pháp rầm rộ kéo đến, mấy ông Tân Việt thường trực tại trụ sở tưởng Mật thám đến bắt mình, hốt hoảng cắp máy chữ chạy và bị bắt luôn. Tân Việt bị vỡ từ Saigon, rồi lan ra Hà Nội. Có bốn sinh viên trường Cao đẳng Hà Nội bị bắt…

Thấy Đảng bắt đầu bị vỡ, Tổng Bí thư của Tân Việt là Đào Duy Anh ở Huế mang toàn bộ hồ sơ nộp cho Trùm Mật Thám Pháp là Louis Marty,và giữ lấy số tiền 7 ngàn đồng, là tiền của ba vị sáng lập viên quyên cho Đảng (3).  Hồi ấy, đang có nạn khủng hoảng, giá đồng bạc rất cao. Một căn nhà lớn ở Hanoi chỉ vào khoảng 2 ngàn đồng, và giá một con trâu là 5 đồng. Cùng với 5 đồng có người “tậu” được cô gái quê làm vợ lẻ. Với số tiền kết sù ấy, Đào Duy Anh và vợ là nữ sĩ Trần Thị Như Mân mở nhà xuất bản Quan Hải Tùng Thư và xuất bản một số sách trong đó có Hán Việt Tự Điển mà chúng ta vẫn dùng. Sau đấy lại thuê mấy cụ nhà nho tu chính lại và tái bản năm 1936. Mấy Cụ là nhân viên Ban Thường Trực Viện Dân Biểu Trung Kỳ, phải ở Huế quanh năm mà chẳng có mấy việc làm. Trong số đó có cụ cử Lê Nguyên Phong là thân phụ nhà văn Tam Ích (4).

Có tội phản đảng mà cũng là phản quốc, nhưng quỷ thần xui khiến họ Đào cũng đã làm một việc khá hữu ích. Tuy nhiên, công nhỏ không đền được tội lớn (5).

Các đảng viên Tân Việt, bắt đầu từ Huế bị bắt tức thì, trong số có Đặng Thái Mai và Võ Nguyên Giáp. Mai tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Hanoi và hồi ấy đang dạy ở Quốc Học Huế. Giáp là học trò và là một trong ba người em kết nghĩa của Mai. Đặng Thái Mai là con cụ Đặng Thái Thân chết ở Côn Đảo mà vì Marty có chính sách mua chuộc con cháu các nhà cách mạng, nên Mai được Marty coi là “protégé” ta gọi là con nuôi đưa ra Hanoi và giao cho Bailey, giám đốc trường tư thục Gia Long cho việc dạy học. Sống rất phong lưu ở nhà số 83 đường Henri d’Orléans Hanoi, trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng. Mấy năm sau chung vốn mở trường Thăng Long và gia nhập đảng Cộng sản. Mai và Giáp có hận với Đào Duy Anh nhưng khi Cộng sản nắm chính quyền năm 1945, Giáp làm Bộ trưởng bộ Nội vụ và Đặng Thái Mai trở thành bố vợ của Giáp. Cả hai không dám trả thù Đào Duy Anh vì sợ họ Đào hoặc vợ con có thể tiết lộ việc cả ba đều là con nuôi của Marty.

 

Hồi kháng chiến, trí thức và văn nghệ sĩ Hanoi di cư vào Thanh Hóa và tập trung ở làng Quần Tín. Trong số có Nguyễn Đức Quỳnh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Vũ Ngọc Phan, Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Chu Ngọc…Một hôm nhóm văn nghệ sĩ được chỉ thị thành lập lớp “Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác”. Không ai biết việc phản đảng của Đào Duy Anh và chúng tôi có mặt trong buổi họp cũng vô tình, nên tất cả mọi người đồng thanh bầu học giả họ Đào làm trưởng lớp, phụ trách việc đi lãnh tài liệu và hướng dẫn lớp học. Thấy tên Đào Duy Anh, Đảng không chấp nhận nhưng không nói lý do tại sao. Phúc đức! Cả nhóm khỏi phải mất công Nghiên Cứu Học Thuyết cao siêu của “Thánh Mác”.

Sang năm 1952, chúng tôi lần lượt “được” dự lớp “Chính huấn” để học tập “Chính sách Cải Cách Ruộng Đất”, và tới trại, công việc đầu tiên là mỗi “học viên” phải viết bản “tự thuật”, kể lại gia phả từ thời ông nội, rồi đến cuộc đời của mình từ lúc ra đời, rồi đến ảnh hưởng thầy và bạn, tốt hay xấu. Có người viết đầy cả trăm trang.

Trong bản Tự thuật, học giả họ Đào kê khai lý lịch, nào là đã làm giáo sư tiểu học ở Đồng hới, nào là đứng ra tổ chức cuộc đón Cụ Phan Bội Châu khi cụ đi qua, rồi tinh thần yêu nước nổi lên xùng xục, bỏ nghề dạy học vào Saigon học nghề làm báo, và được Trần Mộng Hoàn giới thiệu vào Đàng Tân Viêt. Nhưng tuyệt nhiên không đả động đến chức Tổng Bí Thư đảng và việc mang toàn bộ danh sách đảng viên nộp cho Pháp. Chỉ nói từ hồi niên thiếu đã đọc rất nhiều sách mác-xít, và lúc nào cũng ham mộ Thánh Mác hết mình.

 

Việc quái gỡ nhất là 50 năm sau vụ Đào Duy Anh phản đảng, Việt Cộng mang bản tự thuật của họ Đào dịch sang tiếng Anh và đăng trong tờ Vietnam Courier, xuất bản ở Hà Nội (số Tháng 10 năm 1985) để tuyên truyền sự thể một “Đại Trí thức” Việt Nam, soạn giả cuốn Hán Việt Tự Điển vốn là một “đệ tử trung thành và quý báu của Thánh Mác”.

Tại sao có sự cần thiết phải viết lại lịch sử để đề cao một tên phản quốc? Theo thiển ý chúng tôi, không có lý do nào khác ngoài việc: bây giờ Cộng sản mới nhận thấy Đào Duy Anh đã có công lớn, vì nếu họ Đào không sớm khai trừ Tân Việt- một đảng quốc gia có xu hướng xã hội bất bạo động – thì Tân Việt có thể thu hút được nhiều thanh niên, có thể đủ sức đương đầu với Cộng sản.

Mà rất có thể, nếu còn Tân Việt thì những nhân vật như Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp, Tôn Quang Phiệt (6) và nhiều “chớp bu” khác chằng có lý do để nhảy sang Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Mà cũng vì không có một đảng quốc gia vững mạnh, nên phe quốc qia không có người đủ tài năng lãnh đạo, vừa có kiến thức về chính trị, vừa có kinh nghiệm cách mạng. Do đó, năm 1945 khi thời thế đòi hỏi một cuộc cách mạng quốc gia thì phe quốc gia không có người làm cách mạng.

GHI CHÚ:

(1) Đúng như tác giả Hoàng Văn Chí trình bày trên, đảng Phục Việt về sau đổi tên Tân Việt Cách Mạng Đảng, buổi đầu tiên do một số nhà khoa bảng Thanh – Nghệ – Tĩnh thành lập, các cụ Lê Văn Huân, Võ Hoành, Võ Liêm Sơn, Hoàng Văn Khải…

Thế hệ “trẻ” nối tiếp như Tôn Quang Phiệt, Phan Đăng Lưu, Trần Phú, Nguyễn Văn Cử, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) hăng hái hoạt động phát triển đảng cho đến ngày  Đảng Tân Việt bị Mật Thám Pháp khám phá và Đào Duy Anh đầu hàng  Pháp với toàn bộ hồ sơ đảng tịch.

Trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng, một số cán bộ cao cấp Tân Việt vì vậy ngã theo Cộng sản: Phan Đăng Lưu, Trần Phú về sau trở thành Tổng bí thư đảng Cộng sản; Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Khoa Văn, trở thành ủy viên  ban chấp hành kỳ bộ, xứ bộ Cộng sản.

Nguyễn Chí Diễu bạn học cùng trường Quốc Học với Võ Nguyên Giáp, sau cùng chính đương sự giới thiệu Võ Nguyên Giáp gia nhập đàng Cộng sản.

Cùng một trường hợp như trên, Đặng Thái Mai, tốt nghiệp Đại học Sư phạm  Hanoi được bổ dụng làm giáo sư Trường Quốc Học, bị tình nghi hoạt động chính trị Đặng Thái Mai bị Mật thám Pháp bắt giữ tại trường trong giờ học. Ra khỏi tù, Đặng Thái Mai gia nhập đảng Cộng Sản trở thành Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên chính phủ Hồ Chí Minh, thành lập sau ngày Việt Minh cướp chính quyền chính phủ Trần Trọng Kim tại Hà Nội.

 

  • Tôn Đức Thắng (1888-1980)

Quê quán Long Xuyên (An giang), năm 18 tuổi Tôn Đức Thắng lên Saigon học nghề thợ máy (apprenti-mécanicien) tại Hải quân Công xưởng  Arsenal. Mấy năm trời học nghề và thích nghề, lại thêm có sức vóc mạnh mẽ, chăm chỉ và tháo vác, Tôn Đức Thắng lên chức Cai (Caporal).

Bạn bè đồng nghiệp Saigon – Long Xuyên, bình dân và thân hữu  từ đó gọi “Cai Thắng” cho đến sau này.

Một thời gian sau, (có lẽ năm 1913 hay 1914), Cai Thắng trở thành lính thủy thợ máy (matelot – mécanicien) tàu Aurore trên chuyến hải trình Marseille-Toulon-Odessa. Sau vụ nổi loạn trên tàu Aurore như tác giả Hoàng văn Chí tường thuật trên, Cai Thắng trở lại Pháp trước khi trở về Saigon (năm 1919 hay 1920 tài liệu không ghi rõ).

Máy năm sau, tại Saigon – Gia định Cai Thắng tham gia hoạt động Cộng sản theo các đồng chí cũ mới, cuối cùng có tên trong danh sách ban Chấp hành Kỳ bộ Cộng sản Nam kỳ.

Vụ ẩu đả náo loạn Đường Barbier (năm 1949, đổi tên mới Lý Trần Quán), trong đó Cai Thắng là hung thủ chính phạm, bị kết án 20 năm khổ sai biệt xứ, lưu đày Côn Đảo.

Năm 1936 từ Paris, Mặt Trận Bình Dân (1936-1938) lãnh tụ Léon Blum lên cầm quyền. Tại Đông Dương, để gây cảm tình với dân thuộc địa Phủ Toàn Quyền Hanoi ra lệnh ân xá tù nhân chính trị.

Cũng là đàng viên cộng sản như Phạm văn Đồng, Trường Chinh… nhưng Cai Thắng không có tên trong danh sách tù nhân được phóng thích.

Lý do : đương sự phạm tội đại hình, giết tình địch tang chứng đầy đủ, phải ở lại Côn Đảo cho hết hạn tù ( Bản sao hồ sơ pháp lý Tôn Đức Thắng ( Casier Judiciaire) hiện còn tồn trữ tại Tổng Văn Khố Aix-En Provence.

Sau cuộc Đảo chính 9/3/1945, Việt Nam tái hồi quyền tự chủ: chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim thành lập ngày 19/3/1945.

Chính sách Cộng sản giáo điều Mác xít lấy độc tài chuyên chính và bạo lực- hận thù thâm căn cố đế làm căn bản để tồn tại và giữ vững chính quyền.

Chính nghĩa quốc gia trái lại chủ trương lấy nhân đạo, tình nghĩa đồng bào quê hương làm phương châm hoạt động. Vì mục đích chính nghĩa đó, qua Sắc lệnh ngày 2/5/1945 Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim ra lệnh ân xá tất cả chính trị phạm, bất cứ thuộc đảng phái nào còn tại Côn Đảo.

Đề bạn đọc biết rõ thêm vấn đề này, xin trích dần một đoạn ngắn từ Hồi Ký Huỳnh Văn Lang. Tập I (Tác giả xuất bản, năm 2011).

(…) Sắc lệnh ban hành xong, phải đợi gần 2 tháng mới đưa họ về được. Và hầu hết mấy ngàn chính trị phạm về đến đất liền trong đợt đầu tháng 6, tháng 7, đều là cán bộ Cộng sản đã được rèn luyện nhiều năm qua ở Côn Đảo, trong đó có Lê Duẫn, Tôn Đức Thắng, Lê văn Lương, Phạm Hùng, Nguyễn Hộ…

Các chính trị phạm quốc gia phải đợi qua tháng 8 mới được một chiếc tàu Nhật do Chính phủ Trần Trọng Kim dàn xếp, từ đầu tháng mới ra rước, trong đó có Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, Bùi Ái Quốc.

Túc số đầu tiên là 1000 người về Sóc Trăng, 500 người về Cần Thơ, hai ba đợt sau kế tiếp về Trà Vinh. Trừ Lê Văn Lương, tất cả đều được lệnh Hồ chí Minh ở lại trong Nam với Phạm Hùng, Nguyễn Hộ…

Tất cả chính trị phạm được ân xá trở về trước tháng 8 năm 1945: gần 100% là cán bộ Cộng sản bị Pháp bắt giữ từ Phong trào Sô Viết Nghệ An năm 1929-30. Con số phỏng định là trên 10,000 người, kể cả tù Lao Bảo, Tà Lài…)

Qua đến Tr.252, tác giả Huỳnh Văn Lang ghi thêm Chú thích (49):

(…) Không ai dè cái sắc luật 02-051945 ân xá chính trị phạm là một cái bắt buộc chính trị, nhưng cũng là một cái sai lầm rất tai hại cho miền Nam, vì áp dụng ngu ngơ không chính trị chút nào hết, nghĩa là không phân biệt Cộng sản hay quốc gia.

Số cán bộ Cộng sản người Bắc, người Trung được tự do về đất liền, chằng những được đưa đón trước tiên, mà còn ở lại trong Nam hoạt động với Cộng sản Nam kỳ, phải kể là mấy ngàn người, nếu không nói mấy chục ngàn. Họ vừa đông, vừa được huấn luyện, vừa đủ thời gian đề tổ chức và dự bị cướp chính quyền. Mầm mống mất miền Nam 30 năm sau, phải kể từ đó.

Trong khi ấy, chính trị phạm người quốc gia trước sau có chừng 100 người, lại về đất liền quá trễ (tháng 9) nên đụng đầu với quân đội Pháp đang trở lại, được xem là tù vượt ngục, có người bị bắt đưa trở lại Côn Đảo nếu không kịp thời trốn chui trốn nhủi (Hồi ký  Huỳnh Văn Lang Sđd. Tr.252-253)

Đến đây, trở lại với trường hợp Tôn Đức Thắng tức Cai Thắng, Ủy viên Ban Chấp hành Xứ Bộ Cộng sản Nam kỳ.

Như bạn đọc vừa biết trên, may nhờ sắc lệnh ngày 2-5-1945, Cai Thắng được ân xá từ Côn Đảo đưa về đất liền, tháng 6 năm 1945, đề rồi hai mươi năm sau, từ một hung thủ phạm tội đại hình đã trở thành Chủ tịch Việt nam Dân chủ Cộng Hòa thay thế Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 23 -09 -1969 cho đến ngày qua đời 30-3-1980.

Sự việc trên, qua thông tin báo chí, những ai thường theo dõi tình hình chính trị Việt Nam ít nhiều đều biết rõ. Mọi người biết, Hanoi- Huế-Saigon, cả nước biết.

Riêng có hai người không biết, không muốn biết sự thật: Nguyễn Quốc Thắng – Nguyễn Bá Thế, đồng tác giả biên khảo Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam (In lần thứ tư Saigon 1992) như được kiểm chứng dưới đây.

(…Tôn Đức Thắng…) bị kết án 20 năm khổ sai, lưu đày Côn Đảo cho đến ngày 23-9-1945 mới được tự do (Sđd. Tr. 840 cột 2).

Văn từ T.Đ.N.V.L.S.V.N trích dẫn trên ngụ ý: Tôn Đức Thắng được tự do sau ngày Việt Minh Cộng sản cướp chính quyền Chính phủ Trần Trọng Kim ngày 18-19/8/45, theo thứ tự biên niên:

Hanoi 29-8-1945: Hồ Chí Minh thành lập chính phủ.

Hanoi 2/9/1945: Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Vườn hoa Ba Đình.

Thử tưởng tượng hoàn cảnh xã hội chính trị Việt Nam trong khoảng thời gian nói trên: chính phủ Hồ Chí Minh mới thành lập, chủ quyền-quyền bính còn chưa được vững vàng, giao thông vận tải tê liệt.Trong bối cảnh hiện thực ấy, làm sao chính phủ Hồ Chí Minh có đủ phương tiện tàu bè cần thiết đưa rước tù nhân trong hai đợt (đợt cuối tháng 6 và tháng 7)  trong đó có Tôn Đức Thắng, Lê Duẫn, Phạm Hùng… để sau này Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Bá Thế nhận diện và ghi chép vào TĐNVCTVN: “ngày 23-9-1945 mới được tự do”.

Phải chăng vì mặc cảm tâm lý dồn nén, Nguyễn Quốc Thắng-Nguyễn Bá Thế đã chối bỏ sự thật lịch sử” Sắc lệnh ngày 2-5-1945 Chính phủ Trần Trọng Kim để tưởng tượng thêm biên niên lịch sử mới “ngày 23-9-1945 mới được tự do”.

Tục ngữ Việt Nam có câu “ngủ ngày quen mắt, láo khoét quen mồm: láo khoét, bịa đặt lâu ngày tự nhiên trở thành thói quen, thành tập tục; long trọng hơn từ năm 1945 đến nay trở thành truyền thống văn hóa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Phải chăng trong chế độ Cộng sản giáo điều Mác Xít, láo khoét bịp bợm về lâu về dài đã trở thành bổn phận và nhiệm vụ phải thi hành đối với tất cả các nhà nhà văn, nhà báo, cán bộ viết lách để được yên thân sống còn.

Nới rộng them, trong chế độ Cộng sản Hanoi không trừ một ai, từ Tổng bí thư đảng-Chủ tịch nhà nước, cán bộ mọi cấp mọi ngành đến nhân viên tân tuyển, láo khoét gian tà không những là bổn phận phải chu toàn, đồng thời cũng là thành tích trung kiên đối với Đảng để được tuyên dương công trạng sau này.

Bức tranh xã hội Cộng sản đang lộ nguyên hình và càng lâu càng thêm rõ nét. Và, phải đúng như vậy, vì có như như vậy mới gọi là Cộng sản giáo điều Mác Xít!

(3)Hồi ức về sự liên hệ với đảng Tân Việt từ buổi đầu tiên, qua tạp chí Sông Hương – Số 6 – Huế 1984: Huế với bước đầu tiên vào đời của tôi (Tr.10-14), Đào Duy Anh viết:

“Cuối mùa hè năm 1926, anh Trần Mộng Bạch, đại diện Hưng Nam Hội – Việt Nam Cách Mạng Đảng sau đổi tên Tân Việt Cách Mạng Đảng vào Đà Nẵng kết nạp tôi vào Đảng.

(…) Thế là tôi bước vào đời bằng hai sự kiện xảy ra: tham gia xây dựng báo Tiếng Dân và tham gia hoạt động cách mệnh trong Việt Nam Cách Mệnh Đàng sau đổi là Tân Việt Cách Mạng Đảng.

Từ Sông Hương 1984, tiếp tục đến Sông Hương 1986,

Gần cuối năm 1930 tôi và vợ chưa cưới của tôi được ra khỏi nhà tù ở Huế, với cái án treo ba năm. Đối với tôi, giai đoạn hoạt động chính trị bắt đầu từ năm 1926 đến năm 1929 coi như thất bại: tôi quả không đủ tài năng và dũng cảm để gánh vác cái công việc khó khăn và gian khổ cách mạng đã giao cho.

Trong phạm vi bài này tôi không thể nói rõ được những hoạt động của tôi trong đảng Tân Việt, hoàn cảnh bị bắt của tôi và những gì đã xảy ra trong khoảng thời gian bị bắt đó mà đến nay người ta chỉ mới biết qua các tài liệu xuyên tạc của tên chánh mật thám Marty). (T.C: Sông Hương Sđd. Số 17-1986).

(4)Vào giữa thập niên 30, Hán Việt Từ Điển in xong, phát hành khắp nơi Huế-Hà Nội- Saigon. Cùng với Đệ Từ ký tên Hàn Mạn Tử và lời Cẩn chí (Vì Sao Có Sách Này.), tiếp theo là Phàm Lệ với mấy hàng ngắn ngủi sau cùng:

“Sau hết, lại xin độc giả xét cho rằng Bộ Hán Việt Từ Điển này là bộ sách mới có lần đầu, mà người đứng làm chỉ có một mình đến khi đưa in cũng chỉ cậy vào sức một mình, cứ cái tình trạng cô đơn ấy, thôi có khuyết hám và sơ xuất đến bao nhiêu tưởng các ngài cũng sẵn lòng mà lượng thứ cho. (T.C: Hán Việt Từ Điển: Đào Duy Anh. (Phần mở đầu cuốn sách không đánh số trang)

Phải đợi hơn nửa thế kỷ sau, qua tạp chí Sông Hương số 17 Huế-1986. Đào Duy Anh: Tôi soạn từ điển như thế nào (Tr.66-70), độc giả “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” (Kiều), mới có dịp biết rõ sự thật văn chương lịch sử biến ảo đến đâu…

Trong việc biên soạn Hán Việt Từ Điển tôi được hai vị nho học uyên thâm giúp đỡ là cụ Phan Bội Châu và ông Lâm Mậu.

(…) Trong cảnh sống cô liêu bấy giờ, thấy tôi đưa bản thảo Hán Việt Từ Điển đến nhờ xem lại, cụ Phan Bội Châu vui vẻ nhận lời ngay, cụ đã đọc hết bản thảo phần thượng và chỉ vẻ cặn kẽ cho tôi những chỗ thiếu sót và sai lầm, cho nên tôi phải nói rõ rằng không có cái ơn tri ngộ của cụ thì bộ sách này khó lòng thành công. Cụ còn viết cho tôi lời tựa, ký bằng hiệu Hàn Mạn Tử.

Sau khi cụ Phan xem xong quyển thượng, tôi thấy sức khỏe cụ có kém, tôi không dám phiền cụ nữa mà nhờ ông bạn vong niên của tôi là ông Lâm Mậu giúp hiệu đính quyển hạ.

(5)Thẩm định đầy đủ, đúng mức công trình văn học Đào Duy Anh, nên phân chia tiểu sử Đào Duy Anh thành 2 giai đoạn:

Đoạn I- Đào Duy Anh trước năm 1945

Đoạn II- Đào Duy Anh sau năm 1945

Đoạn văn trích dẫn dưới đây sẽ giúp bạn đọc có thêm ý kiến  nhận xét về Đào Duy Anh.

Tìm hiểu lịch sử Việt Nam, các nhà biên khảo ngoại quốc nhận thấy có nét đặc trưng nổi bật là sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Sinh động tính trong sức sống mãnh liệt ấy được nhìn thấy qua cuộc Nam Tiến trường kỳ và liên tục.

Thuật ngữ địa dư – chính trị “Le Nam-tiến”- La Marche vers le Sud -nhiều lần được nhắc đến, qua các nhà viết sử Tây phương ngày trước, gần đây nhất năm 1987  với Yoshiharu Tsuboi tác giả L’Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine. (Trong tác phẩm này, Yoshiharu Tsuboi dành hẳn một chương từ trang 18 đến trang 22 viết về các sự kiện liên hệ đến Nam Tiến).

Nam Tiến không những bao gồm lịch sử cận đại Việt Nam mà cả lịch sử Chiêm Thành, Phù Nam (Chân lạp). Có thể nói rằng lịch sử cận đại Việt Nam , một phần không nhỏ là lịch sử Nam Tiến, mà cao điểm là thời đại các Chúa Nguyễn Phúc Trú, Nguyễn Phúc Khoát, kết thúc với triều đại Minh Mạng, hình thành một nước Việt Nam văn hiến hùng cường đầu thế kỷ thứ 19.

Đúng như vậy, Nam Tiến là một sự kiện lịch sử quan trọng; không có Nam Tiến, không có miền nam Trung Việt và toàn cõi Nam Việt ngày nay.

Đào Duy Anh trong tác phẩm  Việt Nam Văn Hóa Sử Cương (Huế-1938) nơi phần 5 (Lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam), đoạn biên khảo vắn tắt “sự nghiệp khai thác phương nam của chúa Nguyễn”: qua 5 trang ngắn ngủi đã mấy lần nhắc đi nhắc lại hai chữ Nam Tiến.

Trước hết, nơi tr.22:  “Cuộc thắng lợi lần thứ nhất của người Việt Nam ở trên đường Nam Tiến

Tiếp đến tr.31: “Chúa Nguyễn ở miền Nam sẽ tiếp tục sự nghiệp Nam Tiến”.

Đoạn biên khảo trên là của Đào Duy Anh trước năm 1945.

Từ năm 1946 trở về sau, chúng ta có một Đào Duy Anh khác, khác hẳn!

Trong tác phẩm địa lý “Đất nước Việt Nam qua các đời”, xuất bản năm 1984, biên khảo về sự liên cách địa lý-hành chánh qua các đời Lê-Nguyễn và sự mở mang lãnh thổ qua các đời (từ tr.131 đến tr.201), Đào Duy Anh kiêng kỵ, tránh né hẳn hai chữ Nam Tiến. Không một trang nào, dòng nào, hai chữ Nam Tiến được Đào Duy Anh nhắc đến!

Cũng dễ hiểu, Nam Tiến như Đào Duy Anh viết trước năm 1945 là “sự nghiệp khai thác phương Nam của Vua Chúa Nhà Nguyễn”, điều mà chế độ Cộng Sản Hà Nội không cho phép bất cứ sách báo nào được nhắc đến. Đường lối sử học đã được nhà nước Cộng sản “chỉnh huấn” như vậy rồi, còn văn công, cán bộ nào, kể cả Đào Duy Anh dám đi ngược lại!

Không ngạc nhiên lắm, trong “Lịch sử Việt Nam” Tập I, II (nhiều tác giả, Nguyễn Khánh Toàn chủ biên – Hà Nội 1985), hai chữ Nam Tiến lại càng không được nhìn nhận.

Trong cuốn sách gọi là Sử Ký dày hơn 600 trang nói trên, các triều đại vua chúa nhà Nguyễn hơn 400 năm chỉ được các tác giả nhắc đến, trong không đầy 20 trang  nhưmột thế lực phong kiến phản động”.

Trái lại, đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ mới đó, mười mấy năm trong bóng tố và, 40 năm sau (1945-1985) “dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than”, lại được sách báo Cộng Sản Hà Nội dông dài ca tụng từ tr.84 đến tr.198, chưa kể trên dưới 100 trang tuyên truyền bịa đặt láo khoét khác.

Các triều đại vua chúa nhà Nguyễn trái lại được các tác giả nói trên bôi bác chỉ tríchphong kiến, phản động, làm mất nước vào tay thực dân Pháp”!

Nhưng thử hỏi, nếu không có Nam Tiến, nếu không có vua chúa nhà Nguyễn với công trình dựng nước từ miền nam Nam Trung Việt trở vào, làm sao có chuyện mất nước để Cộng sản Hà nội tuyên truyền và huyên truyền!(Nam Tiến Phương Anh Trang – Tiếng Sông Hương  1997)

 

(6)Trước khi đi vào không gian chính trị cố đô Huế, đúng vào thời điểm chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim; tiếp cận thêm một số người trong cuộc  xuất thân từ ngưỡng cửa học đường như Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe, Tôn Quang Phiệt… tưởng nên trở lại bầu không khí học đường Huế. Huế, cô đô Huế trước năm 1945, cũng như nhiều nơi khác trên đất nước Việt Nam, nơi tinh thần tôn sư trọng đạo được kính cẩn lưu truyền thế hệ này qua thế hệ khác.

Thầy, thưa thầy, ngày xa xưa từ học đường lan ra đến xã hội bên ngoài bao hàm ý nghĩa đẹp đẽ lạ thường! Thầy, thưa thầy không những đối với học trò khi còn đi học mà mãi mãi về sau, có dịp gặp lại thầy, người học trò cũ vẫn cúi đầu lễ phép “thưa thầy”, trước sau một niềm tôn kính không phai lạt.

Thầy, thưa thầy, tiếng xưng hô trọng vọng cao quý không phải đối với học trò mà còn tự nhiên gần gũi đối với phụ huynh học sinh khi có dịp gặp thầy, nói chuyện với thầy. Từ học đường đến gia đình và ngược lại từ gia đình đi  vào học đường, sợi dây liên lạc tinh thần ấy đã chung phần xây dựng hữu ích công việc giáo dục học sinh nhiều thế hệ qua.

Quy chế giáo dục Việt Nam trước năm 1945 có sự phân biệt rõ về chức năng, chức vị và nhiệm vụ giáo chức từ Tiều học đến Trung học, Đại học: Trợ giáo (Instituteur) bậc Tiểu học; giáo sư (Professeur) bậc Trung học, Đại học. Tổ chức, quy chế trên văn bản giấy tờ như vậy, nhưng đối với học sinh, từ cậu bé học trò tiểu học  lớn lên đến Trung học, Đại học cách xưng hô đẹp nhất qua ngôn ngữ hàng ngày vẫn là thầy, thưa thầy…

Đối với Hanoi, Saigon, dân số thành phố Huế không nhiều. Dân cư ít, nhưng trường học khá nhiều. Ngoài hai trường Trung học công lập là Quốc Học và Đồng Khánh, trước năm 1945 Huế còn có sáu, bảy trường tư thục khác: trường Pellerin, trường Providence, trường Jeanne d’Arc, trường Phú Xuân, trường Hồ Đắc Hàm, trường Việt Anh, trường Thuận Hóa. Mỗi trường  “nổi tiếng” một cách riêng, mỗi trường với kỷ niệm riêng, trường dòng Pellerin nổi tiếng giỏi môn Toán, trường Providence đứng đầu về kỷ luật học sinh.

Phạm vi chú thích tiếp theo chỉ hạn chế riêng trường Thuận Hóa với thầy Tôn Quang Phiệt (1900-1973), hiệu trưởng từ năm 1935.

Thầy Tôn Quang Phiệt tốt nghiệp Đại học Sư phạm  Hanoi, nhân vật chính trị liên hệ và ảnh hưởng đến thời cuộc Việt Nam thời điểm chính phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim như lịch sử đã tiết lộ.

Tôn Quang Phiệt, đảng viên Tân Việt thuộc thành phần thế hệ “trẻ”, đã cùng với thế hệ tiên phong trước đó không lâu, tiếp tục xây dựng nền móng Tân Việt.

Tôn Quang Phiệt trở thành hiệu trưởng trường Thuận Hóa, trường tư thục lớn vào bậc nhất nhì ở Huế. Không ngạc nhiên lắm khi biết rằng trường Thuận Hóa là trạm dừng chân, nơi núp bóng tạm thời của một số giáo sư cùng quê quán Nghệ -Tĩnh, cùng chung lý tưởng chính trị với thầy Tôn Quang Phiệt.

Cùng chung quê quán Nghệ An, thời gian này có Tổng Lý Ngự tiền Văn phòng vua Bảo Đại là Phạm Khắc Hòe, con rể cụ Ưng Úy, Thượng thơ Bộ Lễ cuối cùng triều đình Huế. Cụ Ưng Úy giòng dõi Tuy Lúy Vương là thân phụ nhà Bác học Bửu Hội, một thời nổi tiếng trong nước và ngoại quốc, đặc biệt buổi đầu tiên với chính phủ Hồ Chí Minh.

Vài chi tiết trên tuy dài dòng nhưng rất cần thiết khi tìm hiểu lịch sử Việt Nam, giai đoạn 1945-1946, từ đó và do đó có thể kết luận tại sao và như thế nào thời cuộc đất nước xảy ra và biến chuyển cho đến năm 1975.

Be the first to comment

Leave a Reply