TƯỞNG NIỆM NỮ SĨ MINH ĐỨC HOÀI TRINH

Minh Đức Hoài Trinh bên cạnh tài tử Kiều Chinh

TƯỞNG NIỆM NỮ SĨ MINH ĐỨC HOÀI TRINH

THÁI HÓA LỘC

Tôi nghe đến Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh rất nhiều nhưng chưa một lần có dịp hân hạnh tiếp xúc trò chuyện như “tình đồng nghiệp văn bút Việt Nam Hải Ngoại”. Thời gian sinh hoạt trong Văn bút Việt Nam Hải Ngoại không lâu bởi tôi không quen với giới văn nghệ sĩ nhiều, môi trường lại xa lạ với một người chưa từng bước vào lãnh vực này. Trong hoàn cảnh đặc biệt, tình cờ gặp gỡ nhà văn Duyên Anh, người mà từ thuở cắp sách đến trường tôi mê đọc văn của ông nhất là tâm đắc câu chuyện ngắn “Con Sáo Em Tôi”. Tôi đã đọc và khóc với tâm trạng của tôi lúc bấy giờ. Tôi phiêu lưu “làm báo” từ đó. Tên của những tờ báo, nhiều người nghe thấy cũng lạ tai nhưng đối với tôi là những kỷ niệm đáng nhớ: Con Cò – Hẻm Nhỏ. Tôi đam mê nhưng chẳng biết viết lách gì nhiều. Đôi lúc viết một bản tin phải mất cả giờ đồng hồ, tôi toan tính bỏ cuộc nhưng nhà văn Duyên Anh lại khuyến khích, “động viên”: “Nghĩ gì hãy viết ra từ phân tích rồi tổng hợp, lần lần sẽ quen đi, không ai khởi đầu đã là nhà văn nhà báo…”. Tôi đã cố gắng nhưng cũng không đến đâu. Cuộc đời đưa đẩy, nếu không có ân nhân là ông Trương Vĩnh Thuyền, tôi đã bỏ nghiệp làm báo từ lâu. Mỗi năm đến ngày 30 tháng 3, ngày ông từ giã cõi đời, vợ chồng tôi đến nghĩa trang Restland thắp một nén hương, đặt một bó hoa tưởng nhớ!  Người Việt Dallas đến nay hơn hai mười hai năm qua nhiều sóng gió được sự thương mến của độc giả còn tồn tại bắt nguồn từ ân tình ấy…

Chiều thứ hai, ngày 19 tháng 6 năm 2017, tôi ghé thăm ông Nguyễn Cúc , người sáng lập Tiếng Sông Hương. Ông trao cho tôi tập thơ khổ nhỏ của Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Tựa đề tập thơ “Bài Thơ Cho Mẹ”, do Nguyễn Quang in ấn năm 1989. Trong lời đề tặng rất đơn giản và chân tình viết bằng tay: “Cho anh Cúc tập thơ xấu xí trật bét lỗi đầy nầy – đọc bài cuối là đủ – Ký tên Minh Đức Hoài Trinh”. Ông tặng lại cho tôi tập thơ quý giá đầy ắp kỷ niệm với một số mẫu chuyện liên quan đến Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Ông đề nghị tôi viết vài lời “tưởng niệm một đồng nghiệp”. Thật sự khi nghe ông nói hai chữ “đồng nghiệp” tôi hơi xúc động và không khỏi “xấu hổ” đối với một người nổi tiếng trong chiều dài lịch sử văn học:

Đôi dòng tiểu sử Minh Đức Hoài Trinh

Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982.

Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí  và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài  truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.

Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù.  Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.

Bà đã dùng ngòi bút và khả năng của mình thường xuyên tranh đấu cho các văn nghệ sĩ bị cộng sản giam cầm phải được trả tự do, ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…

Nhà Văn Nguyễn Quang đã thực hiện 1 tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp Và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.” Nhà Văn Nguyễn Quang có đoạn viết: “Sau khi đọc quyển sách nầy người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. . .Bà đã đi trên khắp 5 lục địa, bà đã vào những vùng chiến tranh lửa đạn. . .” Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.

Các tác phẩm của bà đã xuất bản gồm có:
Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Tôi muốn ghi lại đây lời tựa của Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh trong tập thơ  “Bài Thơ Cho Mẹ” và bài thơ cuối cùng trong tập thơ này như một lời TƯỞNG NIỆM ĐẾN BẬC ANH THƯ TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM  đã vĩnh viễn ra đi.

THÁI HÓA LỘC

BÀI THƠ CHO MẸ

Mẹ. Hẹn với mẹ tập thơ nầy, mà hơn mười năm qua rồi hôm nay mới thực hiện được. Thật vô lý, nào có mất bao nhiêu công của đâu, sao phải chờ đến mười năm. Hay mọi sự vật đều phải chờ đợi một thời điểm, phải đợi lúc đã hội đủ hai yếu tố nhân và duyên. Hay phải hôm nay mới giật mình, nhìn thấy cảnh thời gian vùn vụt, những tháng năm của cuối nẻo đường đời đang chực xô con người sang một hành tinh khác, và mọi người, ai có dự định gì đều phải cố mà làm cho xong.

Tập thơ chỉ vẻn vẹn có mười hai bài, mang tên “BÀI THƠ CHO MẸ” , viết từ thuở nào cho đến ngày mẹ không còn trên cõi đời này nữa, mất mẹ mà không được gặp, không được đưa mẹ ra nghĩa trang, nơi an nghỉ cuối cùng, không được đội mấn trắng, mặc áo sô gấu, theo sau linh cửu, đó là một mối hận lớn nhất trên đời, mẹ biết không? Chắc không phải riêng mình con mà đó là mối hận chung của tất cả những đứa con biết yêu quí cha mẹ.

Ngày ấy mẹ thường phàn nàn lo sợ cho cuộc đời con mai sau sẽ lận đận vì cái chứng hay làm thơ hay đọc thơ. Mẹ cố sức ngăn cấm, bắt phải rời bàn viết, đi làm việc gì khác, mỗi khi thấy con ngồi cầm bút tìm thi tứ. Nhưng cuộc đời nếu có lận đận thì đâu phải tại làm thơ, mà chính mẹ cũng có lắm lúc đã tự mâu thuẫn, mẹ hay giảng về cái nghiệp lực theo đuổi mọi người, cần phải thiện, phải biết bố thí, trì giới để chuyển nghiệp.

Hẳn con đã tạo nhiều nghiệp ác, trong kiếp nào trước, chắc thế, nhưng chắc cũng có tạo chút ít nghiệp lành, nên mới được sinh làm con của bố mẹ để nhận lãnh cái gia tài tu hành của mẹ. Đành rằng chỉ lãnh được có một phần nhỏ nhoi, vì đông an hem phải chia nhiều phần. Có phải không mẹ, cảm tình và kiến thức cũng giống như một chiếc bánh, nhà ta đông nên mỗi đứa con chỉ được một mẩu bánh nhỏ. Nhưng con vẫn sung sướng, ý thức sự nhờ được làm con mẹ nên giờ phút nầy mới biết hường tận những niềm vui tinh thần, cao quý, thanh thoát như ngày nay. Biết phân biệt sự thiện ác, biết nâng niu cuộc sống đơn giản, lành mạnh, biết giá trị của cái gọi là âm chất, âm đức biết nhìn và phân tích mỗi con người đề gần… đề xa..

Mẹ dạy các con, mẹ làm gương cho các con theo. Có lần con làm gì cãi ý mẹ đề mẹ khóc sau vườn hoa nhà ta. Con đứng xa nhìn mẹ khóc, gục đầu vào cánh tay, dựa vào cửu, vườn hoa, thế mà con không chạy đến ôm mẹ để xin lỗi mẹ ngay giờ phút ấy.

Tuổi trẻ sao mà u mê , độn cản và tàn nhẫn. Con vẫn mang nặng hình ảnh tội lỗi này trong lòng. Thất là bất hiếu, mẹ tha tội cho con.

Gia tài của bố con chỉ thừa hưởng được cái chứng làm thơ, mê sử và yêu sách. Mặc dù bố nhiều tài, nhiều sự hiểu biết khác, nhưng phải nhường cho các anh chị. Mẹ hay mắng mỗi khi thấy con mê sách, con đã cãi bướng với mẹ rằng, nếu bây giờ còn sống mà không đọc sách thì sau nầy chết nằm trong hòm, sách đâu mà đọc, mà nếu có sách thì đèn không đủ sáng, chỗ không đủ rộng. “cha già mi, hay lý sự…” Đó là lời mắng yêu của mẹ, còn một câu nữa dành cho con…”lớn rồi, mà ăn nói vô duyên”. Mẹ rầy câu nầy chắc đúng, nhưng bây giờ con biết làm sao đề được mẹ cưng, mẹ khuyên có duyên, chỉ cần mang hết kinh điển của thánh hiền, của nhà Phật ra mà nói chuyện với mẹ là tha hồ có duyên, phải không. Nếu mẹ còn sống ngày giờ nầy mẹ sẽ kêu trời vì sự dọn dẹp, con nổi danh là … thiên hạ đệ nhất bừa”, mẹ từng thấy mấy gian nhà mới mua còn trống rổng, mà chỉ một năm sau nó đã trở thành một gian nhà trĩu nặng sách vở, giống bố đó mẹ ạ, ngày xưa bố mẹ không gặp nhau qua thơ văn sách vở, qua những sáng tác của bố đó sao?

Ai ca bài Nam Bình “Nước Non Ngàn dặm Ra Đi” hay nhất, con vẫn còn nghe giọng của mẹ mỗi lần ru các con ngủ. Thuở bé, con sợ nhất là ngày thứ năm, ngày mẹ dành để đi khám xét rương hòm quần áo của các con. Con không bao giờ  biết xếp dọn, chỉ biết vo tròn từng tấm áo, đặt bên cạnh những quyển sách được bao giấy bóng kính thật trang trọng. Mẹ đã nhiều lần bực tức vì con, mẹ hỏi ông cha con có làm văn làm báo gì không mà sao con lại quý sách vở hơn quần áo.

Mẹ, mà hẳn người mẹ Việt Nam nào cũng giống nhau, thương các con như mẹ đã thương, nhưng mẹ thương theo lối cổ xưa, chỉ chăm lo vào tương lai, làm sao cho các con biết công việc, biết đặt chữ đức hơn chữ tài, mẹ muốn các con phải có lý tưởng, biết thương dân tộc và quê hương. Mẹ thường phàn nàn cho cái hình hài đàn bà, mẹ bảo cố tu, kiếp sau sinh làm đàn ông để gánh vác giang sơn. Thời đại nầy, cũng có nhiều người thành công trong cái thân xác đàn bà đó chứ mẹ, cũng như có nhiều đấng trượng phu mà chằng trượng tí nào.

Có những buổi chiều trong cảnh tranh tối tranh sáng, mẹ bảo tắt đèn để đón hoàng hôn, để lắng nghe âm thanh của bước chân chiều, tiếng ểnh ương xa xa khi trời mưa, hòa với tiếng của lũ giun dế, côn trùng mà mẹ vẫn thường cấm không cho giết, sợ phải tội sát sinh, nếu có lỡ giết thì phải tụng vãn sinh cho chúng nó. Sự giáo dục của mẹ mãi bây giờ vẫn còn ràng buộc con, mẹ có biết không.

Hai mẹ con mình nằm trên chiếc ghế vải mà vẫn còn thừa chỗ, mẹ hay nói đến sự vô tình và có tình, mẹ đặt tình người lên trên tất cả. Mẹ có nhớ những năm tháng xây ngôi nhà Hương Trang ở Huế, suốt khoảng thời gian ấy có thợ mộc ăn ở lại trong vườn, mỗi ngày mẹ bắt chúng con đưa cơm ra mời cho có lễ độ, mẹ dặn phải hiền hòa với người ăn người ở, không được hách dịch hỗn hào đề họ phải tủi thân. Mẹ bào mỗi người đều bị cái nghiệp lực đeo đuổi nên mới phải trả nghiệp mà làm thân tôi đòi, ức hiếp họ thì rồi sẽ bị mang tội, rồi lại phiên chúng ta phải trả lại ở kiếp nào đó.

Ngày có nạn đói khắp hai miền Trung và Bắc, mẹ muốn các con bớt ăn để chia xẻ với người nghèo, như thế mới thật đúng giá trị, chứ cho người ta những đồ thừa thãi thì còn quí hóa gì. Mà quả thật những ngày tháng ấy chúng con đứa nào cũng cảm thấy đói.

Mẹ dạy phải yêu thương cỏ cây, tại sao mình biết đói tìm ăn, khát tìm uống mà bắt cây cỏ phải chờ đợi. Mẹ sợ giết các sinh vật, mỗi khi nhà có yến tiệc mẹ chỉ muốn tìm những món gì mà khỏ phải sát hại, dầu chỉ là con vật bé nhỏ. Giá quan khách chịu ăn chay, hằn mẹ vui lòng. Một lần sinh nhật chỉ cả, bố đã lợ dụng để đãi hai ty Phiên và ty Niết một con bò, vì cả hai ty đều làm việc dưới quyền, lúc ấy mẹ đi Kontum lo sửa chùa, ngày về nghe kể lại mẹ đã cằn nhằn giận bố đã làm giảm phúc của con, tại sao phải giất một sinh vật mới chịu vui mừng. Ngoài chợ có thiếu gì thịt đã có sẵn nếu cần phải ăn thịt thì sao không ra mua, giết thêm nữa làm gì. Anh hai true mẹ thường nói rắng: nếu mẹ không cho ăn bớt sau nầy chúng sẽ trờ nên đông đúc và sẽ nổi ậy cướp chính quyền, cai trị người thì sẽ khổ sở biết bao nhiêu, mẹ chỉ cười mắng một câu thường ngày “cha già mi”.

Nhà ta, mỗi chiều các sư đến tụng kinh, lằm khi có những vị sư trẻ ở trong nhà để tu học tại chùa Bảo Quốc dưới gốc Nam Giao. Mặc dù có các sư đến tụng kinh hàng ngày mạ vẫn không bỏ phần kinh kệ tụng niệm của mẹ. Nhiều đêm thức giấc, nghe tiếng chuông vọng từ Quan Âm Các về, con biết mẹ đang lo buồn về một vấn đề, nhưng tuổi trẻ u mê, không suy nghĩ xa, chằng chịu tìm hiểu đề còn an ủ mẹ.

Mẹ đọc kinh để cầu cho chúng sinh, cho quốc thái dân an. Chính con vẫn đùa sau lưng mẹ, nếu mẹ có quyền chắc cả nước phài ăn chay, phải tụng kinh, phải đi tu… Để rồi giờ phút nầy con đã ân hận sao mẹ không còn sống đề con đốt lư trầm mỗi khi mẹ tụng kinh, ngày ấy mỗi khi mẹ gọi bảo đốt trầm thì vừa cằn nhằn. Con giận mẹ khi mẹ cắt hoa của con đề dâng Phật. Mỗi lần thấy hoa nở con cứ dặn chúng nó thấy mẹ thì trốn sau lá, đừng để mẹ trông được, mẹ sẽ bắt đi tu. Thật là ngốc nghếch, sá gì những bông hoa bên niềm vui của mẹ.

Ít người hiểu mẹ, cả từ trong họ, bên nội lẫn bên ngoại, người ta không hiểu vì những kẻ bình phàm chỉ có thề hiểu được cái tầm vóc bình phàm. Mẹ chằng hề giận mà còn bắt các con phải sám hối cho người ta, nếu họ làm gì sai quấy ngay cả đối với chính mình.

Minh Đức Hoài Trinh trong thời gian nghiệp vụ tại Việt Nam

Rất nhiều lần vào ngày giỗ mẹ, con đã khóc và trách mẹ, sao lại bắt ra đời làm gì. Con biết là mẹ đã không vui, nhưng nếu đang sống ở cõi đời nầy chắc có nhiều lúc mẹ còn buồn hơn nữa. Mẹ ơi, xin mẹ hiểu con mà tha thứ vì lý do gì con phải khóc với mẹ.

Ngày giờ nầy đến hai ngôi mộ của bố mẹ cũng không còn nữa, xác bố phải biến thành tro, đúng như lời Phật dạy, “Chư hành vô thường”.

Rồi những hình ảnh mẹ từ Kontum, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Nghệ An, Huế, mẹ trang trọng đầu vấn khăn nhung, mặc áo nhung đồng màu, mỗi khi đi dự yến tiệc với bố mà trong thâm tâm mẹ chẳng bao giờ thích, và rất nhiều lần gặp ngày ăn chay mà rồi không thể nào trốn nợ, vì công việc của bố. Nhất là gặp những buổi lễ của người thượng, vừa nhìn các anh chàng múa nhảy đâm trâu vừa phải uống rượu cần đề chia vui mừng với họ. Những buổi lễ ác ôn ấy thường rơi đúng vào ngày rằm, ngày mùng một… Hình ảnh chống chất lên nhau qua thời gian và không gian, mẹ trong chiếc áo lam, màu cư sĩ tại gia, mẹ với đầu tóc được cạo để cầu xin sự an bình cho gia đình, mẹ trong màu áo nâu có mang tràng hạt, hoàn toàn là một nhà tu, con đã có lần bắt mẹ để lại chuỗi tràng hạt ấy nếu ngày nào mẹ không còn trên cõi thế gian này nữa… mẹ nhớ không, rồi ngày mẹ tiễn con xuống tàu, ai có ngờ đó là hình ảnh cuối, giờ phút cuối con với mẹ, không bao giờ con được ôm lại mẹ, hờn dối mẹ, nhõng nhẻo với mẹ, không bao giờ nhìn được hình ảnh mẹ, bóng dáng mẹ, ngày giờ nầy chỉ còn lại một bình tro nhỏ nhoi.

Càng nhìn từng thế hệ tàn lụi càng thấm thía khi nghĩ đến hai chữ “Vô Thường” của nhà Phật.

Những ai may mắn, ngày giờ nầy đang còn mẹ, hãy tìm lại gần, hãy thương yêu nhiều hơn. Những ai trót hững hờ, trot phụ ân, trót bỏ quên, hãy tìm cách chốc lỗi, hãy sám hối. Hãy đến trước bàn thờ thắp một nén hương, nếu chưa có bàn thờ thì ít nhất đặt tấm hình của mẹ ra trước mặt, quán tưởng đến người mẹ thương yêu, thì thầm câu sám hối.

Tập thơ nầy thay lời sám hối của riêng con, mẹ còn nhớ bài thơ “Ai Về Xứ Việt” con viết tặng cho mẹ:

Ai trở về xứ Việt

Mang giùm ta thư nầy

Nơi quê hương có mẹ già đơn chiếc,

Thư viết rằng ta nhớ mẹ nơi đây…

Bài thơ đã được mẹ ấp yêu, mẹ bò trong t1ui áo cho tới lúc từ giã cuộc đời. Giá con đủ tài làm bài thơ cho thật hay, cho mẹ kêu hãnh, để xứng đáng cái định nghĩa về chữ Hiếu của Khổng, theo cụ Khổng thì làm sao để dương danh ư hậu thế đề cho cha mẹ được vinh hiển mới là tuyệt đỉnh của chữ hiếu.

Ai bảo độ ấy mẹ ngăn cấm, bắt con phải lén lút, dấu diếm , giá mẹ cứ để cho tự do phát triển… biết đâu… nhưng thôi sao lại trách mẹ, cái thiện nghiệp của từ mấy kiếp trước con chỉ tạo được đến thế . Cám ơn mẹ đã bỏ công nuôi dưỡng, đã cực nhọc thức trắng đêm suốt bao tháng ngày khi con quặt quẹo ốm đau, mẹ đã làm đủ mọi cách để giành giật lại với thần chết, đứa con gái xấu xí, bệnh hoạn mà mẹ không nỡ bỏ. Mẹ dùng cả mưu mô để đánh lừa thần chết bằng hình nộm, bằng cãi số, sau nầy mỗi lần mẹ kể lại, nếu mẹ không nói làm sao con biết được, chỉ có một hai tuổi, đúng là ra đời để báo mẹ.

Mấy đêm nay nằm mơ thấy mẹ rất nhiều, có phải tại vì gặp mùa Vu lan, thức giấc ra bàn viết nốt, muốn nói với mẹ thật nhiều từ chuyện bông hồng trắng, hồng đỏ, đến bông hồng vườn nhà. Vu Lan, lễ cài hoa hồng lên áo cho những người còn mẹ và mất mẹ, quả là một ngày lễ rất nên duy trì. Tôn giáo nào cũng cần tạo ra những buổi lễ tương đương đề các con đừng quên mẹ nên tập cho con, chịu khó đưa con đến những buổi lễ , của chữ hiếu của tình mẹ con.

Vì xã hội mỗi ngày một u mê, sa đọa, mỗi ngày một trận cầu ô nhiễm, bã vật chất bao bọc lên từng trái tim, bộ óc.

Mẹ, nhờ được mẹ hướng dẫn, con đã thoát cái vòng diễn viên để trở thành khán giả ngồi nhìn lên sân khấu, vì cuộc đời chỉ là một vở tuồng dài, màn nầy hạ xuống, màn khác kéo lên, kép nầy lui vào, đào khác tiến ra, mà cứu cánh có phải là làm sao đề lúc nằm xuống khỏi bị lương tâm dằn vặt, dày xéo, cắn rứt, đau nhức vì những nghiệp ác của mình đã tạo ra trong lúc diễn xuất ở ngoài sân khấu cuộc đời.

Minh Đức Hoài Trinh ngày còn trẻ

Con ngưng ở đây, nhưng trước khi, cho con được nói lời cuối, xin xám hối với mẹ, tất cả những hành độngcử chỉ và ý nghĩ nào đã làm mẹ buồn, mẹ ơi, tha lỗi cho con.

NGUYÊN TRINH

(bài thơ cuối cùng trong tập thơ BÀI THƠ CHO MẸ)

Bài thơ nầy con chỉ ghi cho mẹ,

Để nói lên niềm hiu quạnh, cô đơn,

Để nhắc nhớ một thuở nào còn bé,

Khi mẹ con mình lặng đứng ngắm hoàng hôn.

 

Mẹ có nhớ đêm ngủ đò hôm ấy,

Trằng sông Hương vằng vặc giọng hò khoan,

Lời ai oán thức đôi bờ sông dậy,

Cô lái mơ tình yêu, cô lái thở than.

 

Mẹ có nhớ những hồi chuông Diệu Đế,

Tiếng vọng u trầm như điểm nét ưu tư,

Mẹ quằn quại thương người dân xứ Huế.

Sẽ còn gian nan vì chinh chiến, ngục tù.

 

Mầu đất đỏ đường dốc cao Bến Ngự,

Mẹ xuống xe chậm rãi bước chân lên,

Hay những buổi xe qua cầu Thượng Tứ,

Hồ nội thành mẹ muốn thở hương Sen.

 

Chiều xứ Huế trời thay nhiều tấm áo,

Áo hồng tươi, tím ngát, áo xanh mờ,

Đồi Nam Giao chập chờn bóng người đi dạo,

Nghe gió thông tình tứ hát lời thơ,

 

Mẹ có nhớ góc góc vườn hoa Thược Dược,

Cánh huyền nhung tô thấm chốn thiên thai

Dáng mẹ u trầm chấp tay nguyền ước

Cho đàn con vươn dậy trong tương lai,

 

Hồ Hương Trang chiều nao trong nước quá

Mẹ ngước nhìn trời, xin dứt cơn mưa,

Cho người dân nghèo bớt dầm dề, vất vả,

Mắt mẹ ngời khi gặp ánh sao thưa.

 

Mẹ có nhớ trên bến chùa Thiên Mụ,

Mẹ thường xin mau trờ lại thanh bình,

Mẹ vần bảo, sợ non sông mình cẩm tú,

Hay làm ghen cả những vị thần linh.

 

Ngày giờ nầy quê hương xa vời vợi,

Mẹ dưới mồ có khắc khoải chờ mong,

Như chúng con đây, mong ngày ấy tới,

Cho mẹ con mình, cho dân tộc bớt thương vong.

 

Chờ mẹ nhé, chúng ta chờ buổi ấy,

Phải có một ngày đất nước hết điêu linh,

Người dân Việt sẽ thương nhau

Như chưa ai từng được thấy.

Và quê hương mình, sẽ trở lại:

NGUYÊN TRINH

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply