Giờ phút cuối cùng của Ông Trần Quang Trân tại trại tù “cải tạo”

Để ghi nhớ lại một ngày đau buồn của các cựu tù nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng, nói chung; và nói riêng tại trại T.154, tức “Trại cải tạo Tiên Lãnh”, tại thôn 03, xã Phước Lãnh, quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sau ngày 30/04/1975, Việt cộng đã đổi tên thành xã “Tiên Lãnh”.

 

Trước đây, tôi đã viết hai bài: Đà Nẵng 29/03/1975, đăng trên Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, số 550, trang 20-21-22-80-81, từ ngày 16 đến 31/12/1998; và Đà Nẵng những ngày tang thương, Văn Nghệ Tiền Phong, số 568, trang 20-21-22-79-80-81, từ ngày 16, đến 30/09/1999. Qua hai bài này, tôi đã viết về vụ án, mà Việt cộng đã xử bắn Trung úy Trần Quang Trân. Sau đó, tôi cũng đã kể lại qua bài30-04-1975: MÁU và NƯỚC MẮT   

 

Và tôi nghĩ như thế là đã đủ, như đã nhiều lần nói rõ, tôi chỉ là một phụ nữ bình thường, chỉ biết đọc, biết viết; Song, suốt đời, tôi luôn luôn viết với tất cả sự trung thực về những gì tôi đã chứng kiến, không bao giờ vì bất cứ một lẽ nào, mà có thể bẻ cong ngọn bút của mình.

 

Tôi luôn nhớ đến quý vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam – Đà Nẵng. Nhưng tôi nhớ nhiều nhất là những kỷ niệm của những năm tháng dài đã ở trong nhà tù T.154, tức “Trại cải tạo Tiên Lãnh”. Tôi nhớ từng vị cựu tù, đã một thời cùng đi “lao động” hàng ngày như các vị từng cuốc, trang thủa ruộng cho nữ tù cấy, hoặc nam tù đốn củi cho nữ vác xuống, tất cả đều “được” các “kỹ thuật” tính bằng m2, m3, phải “đạt chỉ tiêu” thì mới được nghỉ.

 

Những năm tháng tù đày, đồng chia tân, sớt khổ, đầy đau thương và nước mắt ấy, tôi đã có dịp biết về các vị nam tù, về nhiều mặt, mà tôi cũng đã từng viết: Chính những năm tháng tù đày ở trong nhà tù “cải tạo” của Việt cộng, là một cuộc khảo nghiệm về chất người, để các cựu tù “cải tạo” thấy được chữ trung nghĩa và bất khuất của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa… Tôi đã chứng kiến những lần bọn Công an trại hành hạ, đánh đập các vị nam tù đến thương tật vĩnh viễn…

 

Ngày ấy, một năm vào dịp Tết, “Ban giám thị”” thường “cắt công” cho cả nam và nữ tù vào nhà bếp của trại nam để làm mứt, bánh cho cả gia đình những “quản giáo” đem về quê “ăn Tết”. Tôi vẫn nhớ Đại úy Trương Quang Dõng, là người làm những chiếc “bánh in” do từ chiếc khuôn đẹp mắt nhất. Tất cả nam nữ tù được các anh nhà bếp trại nam nấu cho ăn chung tại nhà bếp, trước mặt của “cán bộ quản giáo”. Đến tối, thì “quản giáo” dẫn giải nữ tù trở về trại, sáng hôm sau, tiếp tục vào làm cho hết số bánh theo “nhu cầu”.

 

Những lần như vậy, chúng tôi trên dưới 10 nữ tù, vào nhà bếp trại nam, để làm nhiều loại mứt. Riêng tôi, “được cắt công” làm bánh tổ, gói bánh tét. Những lần như thế, tôi thường được Đại úy Nguyễn Văn Phúc và Đại úy Trần Văn Duyên tự tay xào, nấu cho những món rau tươi, mà quý anh có được do các anh trồng lấy. Tôi không bao giờ quên những tình nghĩa này. Ngày ấy, ở trong tù, vì theo “Nội quy: Các trại viên phải gọi là anh chị, và tự xưng là tôi”, nên chúng tôi đều gọi nhau bằng anh chị.

 

Thế rồi, qua những năm tháng dài bị tù đày, khi ra tù, mỗi người mỗi phương, người mất, người còn, đa số vẫn nhớ đến, vẫn liên lạc với nhau. Điều này, phải nói là do sáng kiến thành lập Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng. Kể từ đó, các anh trong Ban Chấp Hành như anh Tạ Mộng Tân, anh Phạm Lộc, anh Phạm Thọ, anh Phan Thanh Thắng… đã “bắc một nhịp cầu” cho các Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng, những người đã một thời cùng bị Công an trại tù hành hạ, đánh đập, từng bị đói, lạnh, các anh phải thay trâu bò, để cày cuốc cho nữ cấy, gặt và gánh lúa, ngâm mình dưới ruộng sình tới ngực, tới bụng, làm mồi cho lũ đỉa, dưới cái nóng như lửa đổ giữa mùa Hè, hoặc trong cái lạnh tê cóng người giữa mùa Đông của rừng núi hoang vu, để mọi người có thể liên lạc với nhau.

 

Và thật vui mừng và cảm động thay, vì chính “nhịp cầu” này, mà tôi đã nói chuyện được với các anh, được nghe lại giọng nói của các anh như lúc còn ở tù vậy. Tôi sẽ viết thêm ở một bài khác, để ghi lại những hoàn cảnh, những tâm sự của các vị đồng tù. Còn bài này, tôi chỉ viết về những lần liên lạc với các anh rất cảm động như sau:

 

Vào ngày 14/02/2016, tôi được anh Phạm Lộc cho biết qua email như sau:

 

“Thưa Chị Tuyền

Đây là số phone của Anh Trần Văn Duyên… hoặc số…

Chị có thể gọi thăm Anh Duyên đi nhé.

 

Tôi đến thăm, Anh Duyên cứ nhắc đến tên chị hoài; tội nghiệp quá. Hiện tại ảnh bị mù cả hai mắt. Hai tai thì lãng phải nói thật lớn mới nghe được.

 

Cám ơn Chị với tấm lòng nhân ái

 

Phạm Lộc

Số điện thoại con anh Duyên… (Trần Mạnh Dũng)”

…….

 

Nhận được email của anh Phạm Lộc, tôi liền gọi cho Đại úy Trần Văn Duyên, một vị đồng tù, một người anh đang ở Dallas, tiểu bang Texas với các con, đã xem tôi như em gái trong thời gian còn ở trong tù “cải tạo”.

 

Tôi được nghe anh Trần Văn Duyên kể lại những hoàn cảnh của anh. Mỗi lần nói chuyện với anh Duyên, tôi đều rưng rưng buồn. Tôi kính trọng và thương anh Duyên như một người anh cả. Anh kể:

 

“Bữa Đại úy Nguyễn Văn Phúc đến thăm, anh hỏi Phúc, có biết trên người của Lệ Tuyền có cái gì đặc biệt hay không? Phúc trả lời: Ông này nói vớ vẩn,  tôi làm sao biết được cái gì đặc biệt trên người của Lệ Tuyền được chứ, anh mới nói, từ từ đã, tôi đâu có nói chuyện gì vớ vẩn đâu, tôi chỉ muốn nói đến cây Thánh Giá mà Lệ Tuyền vẫn thường đeo ở cổ mà thôi. Nghe vậy, Phúc chưng hửng, vì tưởng tôi nói bậy bạ gì đó, mà gặp ai tôi cũng hỏi câu đó, khiến cho mấy ông ấy cãi lại, vì tưởng tôi chọc mấy ông”.

 

Sau đó, anh Trần Văn Duyên hỏi tôi:

 

– Nhưng mà hồi ở tù, đâu có ai dám đeo Thánh Giá, mà Tuyền cứ đeo, vậy bọn Công an có làm khó dễ hay không?

 

Tôi trả lời anh Duyên:

– Cũng có mấy lần bị khó dễ, nhưng riêng thằng Thành (đen), trực ở cổng trại nam, có lần hắn bắt tôi đứng tại chỗ, và nói: “Chị đeo cái cây “thập ác” đó làm gì, hãy liệng nó đi”. Hắn cứ lặp đi lại nhiều lần, nói “khi nào chị chịu liệng nó đi, thì tôi mới cho chị đi”. Nhưng tôi nhất định không bao giờ bỏ cây Thánh Giá, nên tôi tìm mọi cách để nói lảng đi, cho qua chuyện. Đang nói qua, nói lại, thì có đội lao động của trại nam về trại, tôi liền nói “Thưa cán bộ, cán bộ điểm danh đi, bữa khác rồi hãy nói chuyện”. Như vậy, tôi thoát nạn, vì ít khi gặp tên Thành (đen), vì hắn trực trại nam.

 

Bài sau, tôi sẽ kể chuyện về cây Thánh Giá đã khiến cho cả đám Cộng an, từ “Giám thị”, cho tới “cán bộ quản giáo” phải kinh ngạc, trước khi chúng tịch thu vì sợ câu chuyện sẽ lan truyền rộng rãi…

 

Đại úy Trần Văn Duyên cũng đã kể cho tôi nghe về giờ phút sau cùng của Trung úy Trần Quang Trân, mà anh đã chứng kiến như sau:

 

“- Trước khi bị xử bắn, bọn công an dắt Trân từ nhà cùm ra đứng phía trong cổng trại. Nhà cùm rất gần nhà bếp khoảng chừng 15 mét trở lại nên mọi sự kiện xảy ra, nhân viên nhà bếp đều nhìn thấy rất rõ. Mọi sinh hoạt trong trại vẫn bình thường Trần Quang Trân khi đưa ra khỏi nơi giam cuối cùng trên đường đi anh vẫn vui vẻ với mọi người. Nhà bếp của cán bộ bưng cho một bữa ăn cuối cùng, Trân bình tĩnh ngồi ăn ngay gần cổng (trại nam sát nhà bếp mà anh Duyên đang làm), Trân ăn hết phần ăn. Ăn xong, bọn Công an đem một bộ áo quần tù còn mới, bảo Trân thay, Trân bị chúng lột hết áo quần, đứng trần truồng ngay cổng để thay áo quần. Thay xong, thằng Công an nó bảo Trân há mồm ra, rồi hắn cầm một quả gì giống quả chanh, liền nhét thẳng vào mồm của Trân. Sau đó, chúng dắt Trần Quang Trân ra khỏi cổng trại, nên anh không thấy những gì tiếp theo nữa nhưng sau đó không lâu nghe hàng loạt tiếng súng cùng một lúc và sau đó một tiếng súng tiếp theo có lẽ là viên đạn ân huệ cuối cùng dành cho Trân. Trong lòng mọi người tùy theo theo tôn giáo cầu nguyện cho linh hồn Trung Úy Trần Quang Trân”.

 

Đó là những lời của anh Trần Văn Duyên đã kể. Tôi xin ghi lại, để mọi người được biết giờ phút sau cùng của Trung úy Trần Quang Trân, trước khi bị xử bắn tại khu vực “Hố Ông Hức”, là nơi do “Ban giám thị” của trại tù chọn, để chôn tất cả những người tù đã chết vì bệnh, hoặc bị bắn chết ngoài từng, khi “trốn trại”. Riêng Trung úy Trần Quang Trân, trong tại tù, không có một ai biết chính xác Ông bị xử bắn vào giờ nào, ở chỗ nào, vì ở trại này, không hề có “Pháp trường”. Và khu vực “Hố Ông Hức” nằm cách xa trại tù, gần “nhà thăm nuôi”, là khu vực ban ngày có người dân ở ngoài trại thường đi lại. Riêng tôi, trong một lần đi “cắt bổi” tức cắt cành lá xanh, bỏ chuồng trâu bò, làm “phân xanh”, đi ngang qua khu vực “Hố Ông Hức”, tôi đã nhìn thấy ngôi mộ của Trung úy Trần Quang Trân. Ông “được” chôn riêng trên ngọn đồi, chứ không nằm chung với các nấm mộ của các tù nhân khác, ở dưới chân đồi.

 

Kể từ lần đó, mỗi lần đi “lao động”, có dịp đi ngang qua khu vực này, tôi đều tìm cách đi đến gần mộ của Ông Trân; nhưng chỉ vừa đi, vừa nhìn, không thể đứng nhìn lâu, vì tôi biết có người đến đứng trước mộ của Trung úy Trần Quang Trân đã bị “kỷ luật” tức bị trừng phạt vào nhà cùm.

 

Và tôi đã thấy ngôi mộ của Trung úy Trần Quang Trân nằm dưới gốc cây cao, trên ngọn đồi, dưới chân mộ của Ông có tấm “Bia mộ” làm bằng một miếng gỗ màu nâu đỏ, có vân đẹp, có lẽ do nam tù “xin phép” dựng cho Ông.

 

Theo tôi, có thể “Ban giám thị” của trại tù muốn theo dõi những người đến thăm mộ của Ông Trân, nên mới chôn Ông cách biệt, một mình Ông trên đồi cao. Tuy vậy, cũng có người khi đi “lao động”, đã tìm cách đến thăm, nếu bắt gặp, thì bị cùm, cho ăn cháo loãng, còn không, thì có thể tìm cách đến thăm lần khác nữa.

 

Những điều này, sau khi vượt biển ra hải ngoại, tôi đã viết lại trên Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong như đã nêu trên. Sau này, tôi cũng đã viết qua bài: 30/04/1975: Máu và Nước Mắt !

 

Và cuối cùng, tôi chân thành cám ơn anh Tạ Mộng Tân, anh Phạm Lộc, anh Phạm Thọ, đã “bắc nhịp cầu” cho các Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng có cơ hội để liên lạc với nhau. Riêng tôi, nhờ các anh, tôi đã liên lạc được với anh Trần Văn Duyên. Một người anh trong trại tù, đã dành tình thương cho tôi như một đứa em gái. Hơn tất cả, là anh vẫn không quên tôi, nên đã liên tục tìm kiếm tin tức của tôi suốt bao nhiêu năm qua.

 

Tôi không bao giờ quên các anh; những cựu tù “cải tạo” với những năm tháng dài phải chịu những đau thương, gian khổ. Giờ đây, mỗi lần các anh báo tin cho biết một vị cựu tù đã vĩnh viễn ra đi, là mỗi lần tôi đau buồn, mỗi lần tôi rơi nước mắt. Tôi Kính và thương các anh. Tôi không muốn các anh ra đi sớm như thế. Tôi nguyện cầu, xin cho các vị đều được khỏe mạnh, an vui, để có thể trở về đoàn viên với người thân và bằng hữu, trong một ngày, khi ánh sáng Tự Do – Dân Chủ sẽ được soi rọi trên khắp mọi miền trên Quê Hương yêu dấu.

 

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Be the first to comment

Leave a Reply