Tham dự Lễ Tịnh Hoá Tội Chướng của Phật giáo Tây Tạng

Bạn tôi 77 tuổi; còn tôi, một bà lão 72. Bạn tôi đưa cho tôi xem bức ảnh của một vị sư Tây Tạng, và nói: “…..thấy không, Sư có đôi mắt sáng, cái đầu vuông vức, nụ cười tươi hiền hoà, vị này có đạo hạnh. Lại nói cái điều mà tôi với bà đang cần. Này nhé, ‘giúp tịnh hoá ác hành, an hoà nội ma ngoại chướng, bịnh tật và giải oan kết’. Bọn mình ai cũng gần chết cả, cần nhất là làm cách nào nhẹ tội. Tôi có hai tấm hình, tôi cho bà một tấm. Ngày mai thứ bảy, đi nhé. Hẹn gặp tại Vamas”.

Bên dưới bức ảnh có hàng chữ “the 9th Neten Rinpoche Tulku”. Tôi nhờ Thạch Phan tìm nghĩa hai chữ Rinpoche và Tulku trong Cyclopedia. Rinpoche có nghĩa “quí giá” (precious).  Tulku có nghĩa một vị tái sinh cao quí (reincarnated, notable, learned and accomplished Lamas or teachers of the Dharma).

Đất nước Tây Tạng có truyền thống độc đáo là, các vị tu sĩ (Lạt-ma) tìm kiếm ‘hiện tượng tái sinh’ của những bậc Thầy vĩ đại đã từ trần. Do nhiều “duyên” đưa đến, họ chọn đứa bé mà họ tin rằng đó là ‘tái sinh’ của vị thầy xuất sắc, có tri kiến và thực chứng tâm linh sâu xa đã lìa cõi “sinh tử, tử sinh” vô thường, rồi trở lại thế gian đau khổ này bằng sự ‘có-mặt’ của đứa bé để hoàn tất tâm nguyện bồ-tát cứu độ chúng sinh. Được tuyển chọn là tái sinh, đứa bé sẽ hưởng một nền giáo dục đặc biệt, phải trải qua nhiều năm chịu sự huấn luyện kỷ luật rất nghiêm khắc để trở thành một vị thầy tràn đầy đức hạnh và thông tuệ; vị thầy ấy phải luôn luôn khiến cho mọi người kính nể và tôn kính nhờ ‘học’ và ‘tu’ của chính bản thân mình.

Tín ngưỡng Tây Tạng cho rằng âm thanh từ miệng của các vị cao tăng (Lạt-ma) phát ra trong những buổi lễ có tính cách tôn giáo không phải là tiếng nói của cuộc đàm thoại quan trọng, không phải là âm thanh mà người ta trao đổi với nhau để hiểu nhau hay để luận giải một vấn đề. Âm thanh với màu sắc tôn giáo ấy chuyên chở sức mạnh mãnh liệt của một tâm linh thuần tịnh, và truyền tới người nghe năng lực tâm linh tinh khiết, an vui. Âm thanh tụng kinh ấy có thần lực diệu kỳ mà chỉ những ai có tín tâm mới nhận ra được.

Tôi hiểu, muốn tham dự lễ Tịnh Hoá Tội Chướng của Ngài Lạt-ma Neten Rinpoche một cách trọn vẹn có hiệu quả, tôi phải đưa cái tâm hằng phân tán của tôi vào trạng thái khoáng đạt và bén nhạy thì tôi mới gặt hái nhiều lợi lạc khi nghe Thầy tụng kinh.

Lẽ dĩ nhiên khi Thầy tụng kinh bằng tiếng Tây Tạng, tôi không hiểu gì cả, nhưng nếu tôi tập trung ý thức vào âm thanh phát ra từ miệng Thầy, tâm và thân của tôi “sống” trong âm thanh ấy, thì tôi đạt đến độ “an trú” trong tâm linh thuần tịnh của Thầy và năng lực tinh khiết, an vui truyền đến tôi, ánh sáng của năng lực đó toả tới tôi. Mọi mâu thuẫn, thương với ghét đối nghịch nhau, giận dữ và tham dục đối đầu nhau ở trong tôi….. tất cả sẽ hoà với nhau trong ánh sáng của năng lực tinh khiết bao trùm, rồi tất cả sẽ trở thành nguồn năng lượng dễ chịu và thân thiết. Nếu thường xuyên tôi được nghe Thầy tụng kinh thì trạng thái cởi mở, tỉnh thức, trong suốt này sẽ khuếch rộng lớn và niềm an lạc sâu xa ló mặt; từ đó tâm bi cùng tâm xả phát sinh mạnh mẽ.

Nhưng việc đưa tâm của tôi vào trạng thái khoáng đạt và bén nhạy không phải là chuyện dễ dàng. Tôi biết cái Tâm mà tôi nói đến hàng ngày không phải là một tâm mà là hai tâm. Đó là tâm của bản ngã tức tâm Ngã và tâm của ý thức tức tâm Ý. Tâm Ngã của tôi đang bị nhốt trong bốn bức tường mang bảng hiệu: tham, sân, si và ‘vọng tưởng vọng tình’.  Có điều kỳ lạ là, trong Tâm của tôi chỉ có hai hướng đi: một là đi ra ngoài, hai là đi vào trong, tức nội hướng và ngoại hướng, mà bốn cửa của bốn bức tường đều quay ra ngoại hướng để để tâm Ngã cùng với tâm Ý hoạt động trên nền tảng nhận thức nhị nguyên và phân biệt. Tôi tưởng tượng hai tâm này tha hồ khiêu vũ với nhau. Lẽ dĩ nhiên hai tâm này nhảy đủ thứ điệu vũ thích hợp với mọi cảnh huống cuộc đời, từ điệu điên cuồng, nóng bỏng cho đến điệu êm đềm, tha thiết và nhẹ nhàng. Mỗi bước chân của tâm Ý là một ý tưởng, mỗi bước chân của tâm Ngã là một ý tình. Ý tưởng và ý tình cứ dậm thình thịch trong đầu tôi suốt thời gian tâm Ngã và tâm Ý mê say nhảy nhót. Thế nên Tâm của tôi lúc nào cũng động, rất động và bất tịnh, bất tịnh lắm. Ngày lại ngày tâm Ngã và tâm Ý khiêu vũ với nhau cho đến khi nào tôi trôi vào giấc ngủ say không mộng mị. Thật đúng là “mình với ta tuy hai mà một”.

Tôi biết, muốn Tâm của tôi không động, thanh tịnh, khoáng đạt và bén nhạy thì, đến tham dự lễ Tịnh Hoá Tội Chướng, tôi phải đưa vào Tâm một cái gì đó có quyền năng khiến tâm Ngã và tâm Ý đứng yên trong thế thanh tịnh. Tôi quyết định, chỉ có lòng chân thành tin vào sự khai thị đầy quyền năng ở Thầy, Ngài Lạt-ma Neten Rinpoche, thì tâm mới có thể thuần tịnh đồng thời ‘tịnh hoá ác hành, an hoà nội ma ngoại chướng’ và tôi sẽ bình tỉnh, sáng suốt thênh thang sữa soạn một chuyến ra đi kỳ lạ phi thường. Một chuyến ra đi không bao giờ trở lại. Nghìn thu vĩnh biệt.

Một ngày nào đó, không xa lắm, tôi sẽ để lại thân của tôi trên mãnh đất nhỏ của thành phố mà tôi đang sống; lúc ấy thân của tôi cân nặng khoảng một trăm mười lăm pounds thịt, xương, máu và nước mắt. Tôi không có thì giờ nấn ná lại ngắm nhìn cái khối thịt, xương, máu và nước mắt mang hình dạng con người của tôi dần dần tan rã. Tôi phải đi ngay; đến nơi nào, thế giới nào tôi không biết. Mất cái thể vật chất là thân xác rồi, tôi không biết tôi sẽ ‘có mặt’, tôi sẽ tồn tại với thể gì ở nơi chốn được người ‘còn sống và chưa chết’ gọi là cõi Chết. Có thể, tôi là thể ánh sáng, mà cũng có thể tôi là thể khí.

Trong cõi Chết đó, tôi biết chắc chắn rằng tôi không cần suy nghĩ, tính toán, phân tích, lý luận, phân loại, so sánh, đặt kế hoạch, mưu sâu kế hiểm hay mưu thần chước thánh…… Vì thế, tâm Ý không có đất để nó dụng võ.  Bằng cách nào đó nó sẽ biến mất. Còn lại là tâm Ngã.

Lúc tôi còn sống, tôi tưởng tôi là tấm thân cao hơn 5 feet; và tâm Ngã chuyển biến theo ảnh hưởng bên ngoài, theo tập quán thói quen, theo điều kiện và cảm xúc… Tâm Ngã xác định sự hiện hữu của nó bằng cách luôn luôn phải tham, sân, si. Tất nhiên khi tôi chết, thân xác tan rã, thì tôi là tâm Ngã bị ô nhiễm; có lẽ có nhiều, rất nhiều ác hành, oan trái dính kết vào tâm Ngã của tôi. Điều tôi cần ngay bây giờ là làm sao tất cả ác hành được từ từ tịnh hoá, mọi oan kết được giải trừ dần dần.

Thầy Neten Rinpoche đời thứ chín đã dùng bánh cúng, nước để làm phép Tịnh Hoá Tội Chướng.

Trước khi làm phép Thầy tụng một hồi kinh đánh thức niềm tin vào Phật tính, khơi dậy sự tự trông cậy vào khả năng tẩy trừ cấu uế và phá vỡ chướng ngại của chính mình, những người tham dự buổi lễ. Thầy nhấn mạnh sự tập trung tư tưởng, ý chí, và tự lực của mỗi người.

Tôi nghĩ vật chất như bánh cúng (tượng biểu hiện cái ác, cái xấu) làm bằng bột hay nước mà Thầy dùng trong buổi lễ chỉ là chất xúc tác để những năng lực xấu, độc hại có lối thoát, có phương tiện rời bỏ thân tâm của con người. Điều quan trọng là tôi phải tập trung tư tưởng mãnh liệt để sức mạnh ý chí tẩy trừ tất cả ô nhiểm trong thân tâm tôi được hoàn tất trọn vẹn với sự dẫn dắt bởi tha lực tinh khiết rạng ngời của một vị cao tăng người Tây Tạng. Tôi tin sự hiểu biết của các vị cao tăng Tây Tạng về đời sống tâm linh của người đang bước qua cõi Chết rất rộng và rất thực tế. Tôi rất sùng kính Thầy khi Thầy làm lễ, mỗi việc Thầy làm đều có lợi lạc sâu xa nếu lòng tin vào Phật tánh của tôi mãnh liệt và chân thực.  Tôi có cảm tưởng nhờ nương vào tâm thức thuần tịnh và tỉnh giác của Thầy mà tâm tôi đạt tới trạng thái mới mẻ, khoáng đạt và nhẹ nhàng không thể tả.

Tôi ước mong từ đây đến khi tôi mất, tôi được gặp Thầy nhiều lần, và những lực xấu, những oan trái, những tội chướng dần dần được tịnh hoá do tha lực thiện tâm sáng chói của Thầy và do tín tâm tự lực của tôi. Tôi sẽ an vui bước vào cõi chết khi tin rằng mình là tâm Ngã không vướng mắc nhiều ô nhiễm trong kiếp này hay được tinh khiết hơn lòng tôi mong đợi. Như thế là quá hạnh phúc cho một đời người vô minh, không biết mình đã gieo bao nhiêu nhân xấu trong suốt gần ba phần tư thế kỷ  trôi-lăn-lưu-chuyển trong cõi trầm luân đau khổ này.

Tôi chợt thấy mình đang thì thầm tiếng vô thanh lời cám ơn Khánh Trang, cô đã mời Thầy đến Dallas và tổ chức lễ Tịnh Hoá Tội Chướng với sự giúp đỡ của dược sĩ Thu Trang và bác sĩ Hoàng Lâm.

Tôi cũng cảm ơn Mai Phương, nhờ cô thông dịch lưu loát ngôn từ Tây Tạng sang ngôn từ Việt Nam mà sự hiểu biết của tôi khi Thầy giảng Phật Kinh không bị ngăn ngại.

Thái Chinh Nguyễn kim Loan

Be the first to comment

Leave a Reply