BUỔI RA MẮT SÁCH CỦA SỬ GIA TRẦN ANH

Ông Phạm Trần Anh

Arlingtton, TX.- Được sự yễm trợ của Trung Tâm Tuổi Vàng của ông bà Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, Đài VAE Live Smart Radio đã tổ chức buổi ra mắt sách của nhà khảo cứu lịch sử Phạm Trần Anh lúc 2 giờ 30 chiều Thứ Bảy, ngày 13 tháng 01 năm 2018 tại Trung Tâm Tuổi Vàng.

Trong sinh hoạt văn hóa, tại địa phương Dallas-Fort Worth rất ít có những buổi ra mắt sách hay sinh hoạt văn học như Nam Bắc California và thành phố Houston nhất là trong mùa đông lạnh giá. Qua lời chia sẻ và dự đoán của bà Giám đốc Trung tâm Tuổi Vàng, số người tham dự cũng rất khiêm nhường mặc dù ban tổ chức phổ biến rộng rãi qua điện thư và các phương tiện truyền thông khác…

Chương trình dự trù khai mạc lúc 2 giờ nhưng phải đến nửa giờ sau đó mới bắt đầu với số người tham dự khoàng 80 người. Sau nghi thức thường lệ chào quốc kỳ – hát quốc ca và phút mặc niệm do Hội Phụ Nữ Người Việt Quốc Gia phụ trách. Cô Nguyễn Ý My, Giám Đốc VAE thay mặt ban tổ chức chào mừng và giới thiệu quan khách tham dự. Trong buổi ra mắt sách “Đế quốc mới Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc” cũng rất đặc biệt là không có hai phần chính thông lệ là người phụ trách giới thiệu tác giả và một người khác trình bày về tác phẩm. Mặc dù anh Phan Ngọc Thạch là người trong ban tổ chức giới thiệu diễn giả hơn là tác giả trình bày đề tài “Đế quốc mới Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp dân tộc”.

Sau khi cám ơn và chào mừng đồng hương tham dự, nhà nghiên cứu lịch sử được tôn vinh như một sử gia, ông Phạm Trần Anh cũng  cũng là người tù bất khuất đã lần lượt trình bày cái họa xâm lăng của Đế quốc mới Trung Cộng. Ông trở lại nguồn gốc lịch sử từ ngàn xưa mà theo ông chiều dài là 4890 năm về trước…

“Từ trước tới nay, khi lên tiếng tố cáo Trung Cộng xâm chiếm Hoàng sa và Trường sa chúng ta thường dựa trên Hiệp ước Thiên Tân ký kết giữa Thực dân Pháp và triều Thanh Trung Quốc cũng như những sử liệu triều Nguyễn chứng tỏ chủ quyền quốc gia của chúng ta … Thế nhưng, Trung Cộng với bản chất xâm lược dối trá và ỷ thế của một nước lớn đã phủ nhận hiệp ước Thiên Tân là một hiệp ước bất bình đẳng nên họ phủ nhận không bàn cãi trên cơ sở hiệp định này.

Lịch sử Việt đã chứng minh rằng bản chất “Đại Hán” xâm lược được thực hiện xuyên suốt lịch sử kể từ triều Thương lập nước Trung Quốc, qua các triều đại không ngừng xâm lược đánh đuổi Việt tộc xuống phương Nam.

Ngay sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa lục địa đã công khai tuyên bố: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái Bình Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Trung Cộng vẫn gọi nước ta là An Nam như các triều đại phong kiến trước kia. Những lời tuyên bố trắng trợn này được ghi trong “Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc”. “Lược Sử Tân Trung Quốc” nhắc lại  những cương lĩnh và những lời tuyên bố ngang ngược của Mao Trạch Đông là: “sẽ vĩnh viễn thuộc về Trung Quốc bằng sự chinh phục và khai hóa của văn minh chống man di”.

Chính vì vậy, chúng ta phải đặt lại vấn đề chủ quyền lịch sử của nước ta đã được chính các bộ sử Trung Quốc ghi chép. Đây là một sự thật lịch sử mà Trung Cộng không thể phủ nhận được. Chỉ khi nào cả công luận quốc tế thấy rằng, ngay từ thời Thương lập nước Trung Quốc cách đây 3.785 năm, họ đã xâm chiếm lãnh thổ của Việt tộc ở lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử. Chúng ta trình bày cho thế giới biết rằng, đừng nói gì Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả phần lãnh thổ của trung Cộng hiện nay trước kia là của Việt Nam.

Sự thật lịch sử này đã được chính sách sử của Trung Quốc ghi chép thừa nhận. Đây là chứng cớ cụ thể mà đế quốc đỏ Trung Cộng dù là một nước lớn đất rộng người đông, dù ngoan cố thế nào cũng không thể phủ nhận được. Một khi công luận của cả nhân loại tiến bộ lên tiếng thì vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề không cần bàn cãi nữa.

Sự thật lịch sử được phơi bầy bởi chính các bộ cổ sử của TQ, chứng minh chủ quyền lịch sử của dân tộc Việt trên phần lãnh thổ hiện nay của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thế nên việc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã sáng tỏ trên phương diện lịch sử. Công luận của toàn thể loài người tiến bộ sẽ lên án hành vi xâm lược của đế quốc Đại Hán xâm lược xa xưa và hành động xâm lấn bành trướng của đế quốc đỏ TC ngày nay. Việc Trung Cộng ỷ vào thế nước lớn ngang nhiên xâm chiếm Tây Tạng rồi Hoàng sa và Trường Sa là một vấn đề không những của Việt Nam mà còn là hiểm họa của toàn thể nhân loại nữa.

Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc thâm độc quỉ quyệt. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử, xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi các nhà Trung Hoa học đều xác nhận rằng Di-Việt là chủ nhân của Trung nguyên tức toàn thể lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Một sự thực lịch sử nữa cũng được xác nhận là hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đã phải thừa nhận nước ta là một nước văn hiến: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

Theo Công trình mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, thì không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt. Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngã Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, còn theo dân gian thì ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng thì mồ mả của ông còn ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định thì Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đã nhận định:“Ý kiến cho rằng chủng tộc Hán đã sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ thì nay đã không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đã thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tàu, cũng chẳng có đến cả người Tàu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tàu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuý và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai dòng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đã thành lập triều Nguyên rồi khi Mãn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị (trong đó phần lớn là văn hóa Việt cổ) khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tàu. Các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương. Tất cả chỉ được ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân thu Chiến quốc.

Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc vì nếu là tổ tiên Hán tộc thì đã phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính vì vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mã Thiên đưa vào bộ “Sử ký” của Tư Mã Thiên.

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tàu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trãi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay.

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương xâm lược tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá, ngay cả sau khi Việt tộc đã giành lại độc lập tự chủ. Các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều đem quân xâm lược Việt Nam nhưng đều bị quân dân ta đánh cho tan tành không còn manh giáp. Thế nhưng Hán tộc vẩn luôn tìm cách xâm lấn nước ta mỗi khi chúng hùng mạnh. Bản chất xâm lược của Hán tộc trước sau như một.

Từ các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh năm xưa và Trung Cộng bành trướng ngày nay vẫn tìm cách xâm lấn đất đai, biển cả của chúng ta. Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau, chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi tên đất, tên sông xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm.

Học giả J Needham người có công phục hồi sự thật lịch sử Việt bị che giấu hàng ngàn năm, làm đảo lộn mọi sử sách xưa nay đã nói rằng: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”.

Để xóa nhòa nguồn cội gốc tích Việt, Hán tộc thâm độc một mặt đốt hết sách sử hoặc bất cứ bản văn nào liên quan đến văn hóa Việt, nguồn gốc Việt, mặt khác ra lệnh cấm tàng trữ và không cho phái đoàn đi sứ qua Tàu được mua sách sử. Sau gần một ngàn năm bị trị dân tộc Việt đã bị triệt tiêu văn tự, không còn chữ viết để lưu lại cho đời sau. Hán tộc quỉ quyệt đã bóp méo sửa đổi toàn bộ lịch sử Việt hiến ngày nay, chúng ta khó mà tìm được một bộ sử đầu tiên của Việt tộc.

Bộ sử đầu tiên được biết là bộ “Việt Chí” của Trần Phổ và bộ “Đại Việt Sử ký” do Lê văn Hưu biên sọan đời Trần Nhân Tông năm 1272. Cả 2 bộ sách này đã bị quân Minh tịch thu rồi tiêu hủy nên hiện không còn nữa. Cuối đời Trần, sách Đại Việt Sử lược do một tác giả vô danh biên soạn nhưng bản duy nhấy lại lưu trữ trong “Thủ sơn các Tùng thư và Khâm định Tứ khố Toàn thư” đời Thanh. Bộ sử này được hiệu đính bởi Tiền Hi Tộ, sử quan triều Thanh nên đã sửa chữa nội dung kể cả tên sách Đại Việt Sử lược cũng bị sửa lại là Việt sử lược. Chúng ta thấy rõ ngay bản chất thâm độc quỉ quyệt của Hán tộc xâm lược, các sử gia Hán đã sửa đổi niên đại thành lập nước Văn Lang, kéo lùi lại hàng ngàn năm hòng xóa bỏ vết tích cội nguồn  quê hương xa xưa của Việt tộc ở Trung nguyên. Đồng thời xuyên tạc ý nghĩa cao đẹp của sự thành lập quốc gia Văn Lang qua việc một người lạ, dùng ảo thuật áp phục … Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc thì chúng viết là bất mãn Tô Định bạo tàn nổi lên làm loạn !!!

Đại Việt Sử lược bị quân Minh tịch thu tiêu hủy, bản duy nhất còn giữ ở Tứ khố Toàn thư” của triều Minh. Sử quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ, sửa đổi xuyên tạc, bóp méo lịch sử theo ý đồ “Đại Hán xâm bành trướng” đã chép về sự thành lập của quốc gia Văn Lang như sau:

Đến đời Chu Trang Vương (696-682TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dung ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ờ Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dung lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương …”.

Các nhà nghiên cứu lịch sử Mác-Xít với sử quan duy vật, viết sử theo nghị quyết của đảng Cộng sản đã nhân danh cái gọi là “khoa học lịch sử hiện đại” đã bác bỏ niên đại lập quốc 2979TDL. Họ dựa theo “Việt sử lược” là bộ sử đã bị Tiền Hi Tộ sử quan triều Thanh sửa đổi rồi nhất loạt cho rằng “Niên đại mở đầu của thời sơ sử Việt Nam được xác định là cách ngày nay khoảng từ 2.600 năm đến 2.500 năm”. Chủ trương của đảng CSVN là không dám đả động gì đến phần lãnh thổ của Việt tộc ở bên Tàu từ thuở xa xưa sợ làm mích lòng đàn anh Trung Cộng. Thế là các nhà sử học Xã hội chủ  nghĩa, những con người mất gốc này đồng loạt nhân danh khoa học lịch sử hiện đại, vội vàng phủ nhận cội nguồn gốc tích Việt, phủ nhận niên đại lập quốc cách nay ít nhất là 6 ngàn năm. Tệ hại hơn nữa, họ lại dựa trên Đại Việt Sử lược đã bị sử quan triều Thanh đổi tên lại là Việt sử lược, sửa đổi niên đại lập quốc của Văn Lang ngang với thời Chu Trang Vương (696-682 TDL) để xóa nhòa ký ức Việt về thời lập quốc xa xưa của Việt tộc.

Sử quan đóng khung viết theo nghị quyết của đảng Cộng sản Việt Nam bán nước đã phủ nhận cội nguồn và đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội tồ quốc là một chứng tích tội ác, một vết nhơ của lịch sử Việt. Chính Phan Huy Lê, viện trưởng viện sử học của nhà nước CHXHCNVN đã viết:

“Lịch sử là lịch sử, nếu viết sử theo nghị quyết thì không còn là lịch sử nữa” và sử gia Đào Duy Anh trước khi chết đã phải viết một câu đi vào lịch sử “ Người ta biết tôi qua sách sử và người ta cũng kết tội tôi vì lịch sử”…!!!

Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Lịch sử thế giới không có một dân tộc nào có thể vùng lên giành lại độc lập sau đêm dài nô lệ hơn một ngàn năm dưới ách thống trị của kẻ thù thâm độc quỉ quyệt như dân tộc Việt Nam.

Lịch sử Việt là lịch sử của công cuộc trường kỳ kháng chiến, chiến đấu và chiến thắng để  Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay. Dân tộc Việt đã chiến thắng biết bao kẻ thù hung hãn quỉ quyệt bất cứ từ đâu đến, dù chúng núp dưới bất kỳ chiêu bài hoa mỹ nào. Lịch sử Việt cũng chứng minh rằng tất cả những gì xa lạ với bản sắc dân tộc đều phải khuất phục trước sức sống Việt Nam, trước truyền thống anh hùng của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến.

Sở dĩ, Phan Huy Lê phải viết ra điều này vì chính ông đã là nạn nhân của “Cái gọi là viết sử theo nghị quyết” của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam.

Trong bài viết giới thiệu “ Tác giả, văn bản và tác phẩm “Đại Việt Sử ký Toàn thư” của sử thần Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Lê viết rằng: “Ngô Sĩ Liên đưa nhà Triệu của Triệu Đà vào quốc sử là một sai lầm kéo dài …”.

Thực ra sai lầm này bắt đầu từ nhận định phiến diện chủ quan của Ngô Thì Sĩ và  sau này là Phan Huy Chú, khiến chúng ta sau này phải lần mò trong rừng thư tịch TQ cổ mù mờ khó hiểu. Các hủ nho cứ nhắm mắt tin vào “Chính sử” của Trung Quốc như Ngô Thì Sĩ … để lại một di sản vô cùng tai hại. Tệ hại hơn, các nhà sử học Mác Xít ngày nay đã viết sử theo nghị quyết của tập đoàn Việt gian bán nước đã phơi bầy thái độ hèn mạt nhục nhã của sĩ phu thời đại Cộng sản khiến “Thần người đều căm hận, Trời đất chẳng dung tha”.

Ký tặng những người mua ủng hộ sách

CỔ SỬ TRUNG QUỐC XÁC NHẬN SỰ THẬT LỊCH SỬ.

Cổ sử Trung Quốc chép “Năm Quí Tỵ 2.198TDL, vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê. Năm Qúi Mão 2.085TDL vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt”.

Cổ sử Trung Quốc chép : “Đời Cao Tông triều Ân, vượt Hoàng Hà đánh nước Quỉ Phương (Xích Qui Phương) 3 năm không thắng …”. Kinh Thư, Sử Ký Tư Mã Thiên và bộ Trúc Thư Kỷ niên chép đời Vũ Đinh là vị vua thứ 22, lấy hiệu là Cao Tôn, thì một biến cố quan trọng xẩy ra; bộ Trúc Thư ghi như sau: “Năm thứ 32, đem quân đánh Quỉ Phương và đóng quân tại Kinh”.

Sử Ký của Tư Mã Thiên chép: “Đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam”.

Sách Lã Thị Xuân Thu viết: “Phía Nam Dương, Hán là Bách Việt”.

Hậu Hán Thư chép: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau…”.

Sử Ký mục Đông Việt truyện chép: “Đông Việt hay Đông Âu (Âu Việt ở phía Đông) trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia miền Triết Giang, Mân Việt ở đất Mân Trung tức miền Phúc Kiến. Nam Việt đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông. Tây Âu (Âu Việt ở phía Tây) ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây …”.*

Cổ sử Trung Quốc chép “Dân Lạc ở vùng sông Lạc Thiểm Tây vùng Tam Giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng,  sông Lạc và Ba Thục”. Năm 770TDL, sau khi bị “Khuyển Nhung” tức Lạc bộ Chuy đánh chiếm Kiển Kinh, triều Chu phải dời đô về Hà Nam phía Đông. Triều Chu giao cho Tần trấn giữ hướng Tây. Năm 659TDL, Tần Mục Công đánh thắng Lạc bộ Chuy. Sử Ký của Tư Mã Thiên chép: “ Lạc bộ Chuy bị Tần Mục Công diệt vào đời Chu Thành Vương năm 659TDL thời Đông Chu”.

Tiền Hán thư, Hậu Hán Thư và Sử Ký của Tư Mã Thiên đều ghi chép những sự kiện lịch sử sau:

Năm 316TDL Tần đánh chiếm Ba Thục.

Năm 257TDL, An Dương Vương Thục Phán thống nhất chi Lạc Việt và Âu Lạc thành lập quốc gia ÂU LẠC của Việt tộc. Sách Đại Việt Sử lược chép:“Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Thục Phán đánh đuổi mà thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương rồi không thông hiếu với họ Chu nữa”.

Năm 299 TDL, Tần thắng Sở bắt giam Sở Hoài Vương. Năm 278 TDL Tần Bạch Khởi đánh chiếm đất Dĩnh, Sở phải bỏ Đan Dương phía Bắc dời đô xuống phía Nam sông Dương Tử lập ra trấn lỵ Tiểu Đan Dương. Tiểu Đan Dương là vùng đất Ô châu cũ nay là vùng Giang Tô, xưa gọi là Kiến Nghiệp Kim Lăng tức Nam Kinh bây giờ.

Năm 223TDL, Tần lại đem quân đánh chiếm nước Sở. Tướng Tần là Vương Tiễn chiếm Hồ Bắc, Hồ Nam rồi đem quân đuổi theo truy kích tàn quân Sở tới An Huy, giáp biển Đông. Dân quân Sở kể cả Ngô, Việt một lần nữa phải lên đường di tản theo đường biển xuôi Nam xuống cổ Việt hội nhập với cư dân Lạc Việt của nước Văn Lang đã định cư từ lâu ở vùng châu thổ sông Hồng sông Mã. Sau khi diệt Sở năm 223TDL, Tần đánh chiếm Tề năm 221 TDL lên ngôi bá chủ Trung nguyên.

Năm 218TDL, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân tiến xuống Lĩnh Nam. Năm 214TDL, quân Tần chiếm được một phần Lĩnh Nam rồi chia làm 3 quận gồm Nam Hải (Việt Đông tức Quảng Đông bây giờ), Quế Lâm (ở phía Bắc và Đông của Việt Tây tức Quảng Tây bây giờ) và Tượng Quận (Bắc Việt Tây và Nam Quí Châu). Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống hy sinh, quân dân Việt rút vào rừng thường xuyên đột kích tiêu diệt quân Tần. Tinh thần quân giặc hoang mang lo sợ, dân quân Việt thừa thế tổng phản công giết chết tướng giặc Đồ Thư tại trận, quân Tần tháo chạy về  nước. Đây là cuộc chiến tranh du kích đầu tiên trong trường kỳ lịch sử của Việt tộc đã đập tan đạo quân bách chiến bách thắng của đế chế Tần hùng mạnh. Chiến thắng quân Tần là minh chứng hùng hồn của sự hợp nhất các chi tộc Việt thành quốc gia Âu Lạc của An Dương Vương.

Năm 111TDL, Hán Vũ Đế cử Lộ Bác Đức giữ chức Phục Ba Tướng quân, xuất binh tiến đánh Nam Việt. Sử chép trước thế giặc mạnh như vũ bảo, Lữ Gia cùng với Vua và triều đình phải rút về vùng biển. Lộ Bác Đức sai quân đuổi theo bắt giết cả Triệu Kiến Đức và Tướng Lữ Gia.

Sau khi Hán tộc đánh chiếm Nam Việt, chúng đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc Việt Nam), Cửu Chân (từ Vân Nam xuống tới Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là Đam Châu thuộc đảo Hải Nam). Thực tế này, một lần nữa khẳng định Trung nguyên, vùng Nam Trung Hoa ( Hoa Nam) kể cả đảo Hải Nam, Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là của Bách Việt mà Hán tộc đã xâm lược thời Hán mà thôi. Quận Nam Hải thời đó là phần đất thuộc tỉnh Quảng Đông bây giờ nên sách sử Trung Quốc viết biển Nam Hải tức là biển Quảng Đông mà thôi. Nam Hải hay Trướng hải là vùng biển Hoa Nam cách huyện Hải Phong tỉnh Quảng Đông 50 dặm. “Tân Từ điễn Thực dụng Hán Anh” xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 viết: “ Nam Hải là vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan đến Quảng Đông”. Nhà bác học Lê Quí Đôn trong tác phẩm “Vân Đài Loại ngữ” viết : “Quảng Đông ngày xưa thời quốc gia Nam Việt là Phiên Ngung, còn gọi là Dương Thành, Dương Châu, Dương Thủy, Long Uyên, Long Biên, Quảng Châu Loan …(1) Quảng Đông Quảng Tây trước có tên là Việt Đông, Việt Tây nên cả vùng biển gọi là Nam Hải của Quảng Đông trước kia đều thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Các nhà hàng hải Tây phương không hiểu rõ vấn đề chủ quyền biển Đông nên thường gọi là biển Nam Trung Hoa nên một số bản đồ ghi là biển Nam Trung Hoa dể tiện việc hải hành chứ không hề xác nhận đó là biển Nam Trung Hoa. Thực tế này chính “Từ Nguyên cải biên” bản xuất bản năm 1951 và 1984 ghi rõ là người ngoại quốc gọi Nam Hải là Nam Trung Quốc hải. Nhân sự kiện này, Sách “Từ Nguyên cải biên” lợi dụng danh xưng này đã viết: “Vị trí ở phía Nam Phúc Kiến và Quảng Đông, phía Tây Đài Loan và Phi Luật Tân, phía Đông bán đảo Trung Nam và bán đảo Mã Lai, phía Bắc Ba La châu (Borneo) và đảo Tô Môn Đáp Lạp (Célebres?). Có điều là thời xưa biển nước ta (Trung Quốc) mệnh danh là Nam Hải, có thời đã bao quát cả Ấn Độ dương nữa, vậy chẳng nên giới hạn diện tích Nam Hải ở phạm vi như chép ở trên… (2)

Chính Hán sử cho chúng ta biết rằng sau khi chiếm được Nam Việt rồi thì Lộ Bác Đức phải nhờ Giám Cư Ông là người Việt ở Quế Lâm chiêu dụ Âu Lạc về thuộc Nam Việt. Sở dĩ Hán Vũ Đế không dám xua quạn xuống Tây Âu, Âu Lạc vì Lưu An tác giả “Hoài Nam Tử” đã nhắc lại kinh nghiệm thất bại năm xưa của đại quân Tần. Vì thế Lộ Bác Đức đóng quân ở Hợp Phố rồi chờ 2 viên Điền sứ của Triệu Đà ở Âu Lạc đến dâng nộp ấn tín sổ sách và 1000 vò rượu rồi giao cho 2 viên Điền sứ cai trị như xưa. Điều này chứng tỏ là ngay từ thời Triệu Vũ Đế Âu Lạc vẫn tự trị. Trên thực tế, quân dân Nam Việt một số chạy ra đảo Hải Nam cùng với cư dân Lạc Lê ở địa phương tiếp tục chiến đấu nên năm 81TDL, Hán triều phải bỏ Đạm Nhĩ và đến năm 46TDL, quân Hán lại phải bỏ Châu Nhai vì bị thiệt hại nặng nề. Trước tình hình đó, Hán triều phải bãi chức, triệu hồi Tích Quang về kinh.

Như vậy, chính sử TQ đã xác nhận là Hán tộc đã xâm lược lãnh thổ của Việt tộc trong suốt tiến trình lịch sử nên cả đảo Hải Nam chứ đừng nói tới Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền của VN từ lâu. Đây là chứng cớ hùng hồn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt tộc.

Tự xa xưa, dân gian thường phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa Tàu và Việt nên thường nói “ Bắc Hán, Nam Việt” có nghĩa là người Hán ở phương Bắc, người Việt ở phương Nam. Chính Hán văn Đế cũng phải giao trả toàn bộ đất đai vùng Lĩnh Nam về cho Việt tộc năm 181TDL. Hán văn Đế phải cử sứ gỉa mang thư với lời lẽ hạ mình khiêm nhượng sang Nam Việt điều đình thương lượng xin giao trả phần đất phía Nam rặng Ngũ Lĩnh để đổi lấy hòa bình và thông thương giữa hai nước.

Sau gần một ngàn năm đô hộ, Hán tộc thâm độc đã triệt tiêu văn tự, sách sử của nước ta nên các sử gia nước ta lấy nguyên văn của Hán sử chép là họ Triệu lập nước Nam Việt là viết theo văn phạm của Hán ngữ đặt tĩnh từ trước danh từ. Người Việt chúng ta luôn đặt tĩnh từ sau danh từ như trời xanh, mây trắng, Việt Nam, Hải Nam trong khi chữ Hán lại viết là Thanh thiên, bạch vân, Nam Việt, Nam Hải … Sự thực này đã được danh nhân Nguyễn Trãi xác định rõ trong tác phẩm “Dư Địa Chí” là: “Thiên Vương chế chép các tên gọi An Nam, Nam Việt, Việt Nam, Nam Bình đều là tên của nước Việt Nam bây giờ”. Chính vì vậy quốc gia Nam Việt theo Hán sử chép chính là quốc gia Việt Nam của Việt tộc ở phương Nam và ngay cả đảo Hải Nam cũng thuộc nước ta từ lâu. Đến thế kỷ thứ XVIII mà Trung Quốc vẫn chưa biết gì về Hòang Sa, Trương Sa như lời của nhà sư Thích Đại Sán(1633-1705), tu sĩ cửa chùa Chang-shou ở Quảng Đông trong hồi ký của ông tên là Hai wai ji shi (Ghi chép một chuyến đi hải ngoại) viết về chuyến đi của ông tới phần nửa phía Nam của VN vào năm 1695 có nói tới các đảo Hoàng Sa là lãnh thổ Việt nam và tiết lộ rằng triều đình Việt nam có gửi tàu ra tuần tra thường xuyên các đảo ấy.

Hứa Văn Tiền, sử gia Trung Quốc viết trong bản dịch tác phẩm “An Nam Thông sử” của sử gia Nhật là Nham Thân Thành Doãn đã khẳng định:“Thực ra người Việt tạo dựng được cơ nghiệp ở bán đảo Trung- Ân là có uyên nguyên chứ không phải việc ngẫu nhiên, bởi vì người Việt Nam là giống cường đại nhất trong Bách Việt. Nước Sở xuất hiện khoảng mười một thế kỷ trước kỷ nguyên là do dân tộc An Nam thành lập”. Hứa Văn Tiền dẫn “Sử Chính nghĩa” của Trung Quốc viết: “Nam Việt và Âu Lạc đều lập họ”. Tác giả Sử Ký Chính Nghĩa lại trích dẫn sách “Thế Bản” chép: “Việt họ Mi cùng Tổ với Sở. Sách xưa gọi là đồng tính, đồng tổ tức là cùng chung một chủng tộc. Vả lại, theo sách sử Việt thì cương vực người Việt ngày xưa, phía Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam tiếp với nước Hồ Tôn (Lâm Ấp) thì bỏ Sở đi sao được?”.

Tóm lại, chính sử sách Trung Quốc đã xác nhận là Hán tộc đã xâm lược lãnh thổ của Việt tộc trong suốt tiến trình lịch sử nên cả đảo Hải Nam chứ đừng nói tới Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu. Đây là chứng cớ hùng hồn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt tộc. Chính vì vậy, trước năm 1909 không có một bản đồ nào của các triều đại người Tàu nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả các bản đồ cho tới nhà Minh chỉ cho thấy phần cực Nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam mãi đến năm 1909, Trung Quốc mới vẽ bản đồ về biển Đông mà họ mạo nhận là biển Trung Hoa. Chính bộ “Tân Từ điễn Thực dụng Hán Anh” xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 đã xác nhận: “Nam Hải là vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan đến Quảng Đông”. Như vậy, quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Biển Đông của VN.”

Thật sự trong số hơn 50 người hiện diện trong buổi thuyết trình rất ít người thâu nhận một cách chính xác những điều nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Trần Anh trình bày. Một lần trước đây, cố giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đặt nghi vấn về sự thành công của nhà biên khảo Phạm Trần Anh trong việc tìm một kết luận dứt khoát về nguồn gốc dân tộc Việt Nam:

“Theo tôi hiểu thì tham vọng của anh là đi từ sử Việt, tìm cách đúc kết hết cả những tri thức của nhân loại về tiền sử để đi đến một kết luận dứt khoát về nguồn gốc của dân tộc ta. Anh có thành công không? Tôi e rằng trong nỗ lực này có lẽ anh quá tham nên dù anh đã dẫn chứng rất nhiều tài liệu và những lời chứng của các sử gia hàng đầu của nhân loại trong thế kỷ 20 để ủng hộ cho quan điểm của anh, tôi sợ rằng anh vẫn chưa chứng minh được một cách thỏa đáng tại sao Bách Việt có lúc đã vùng vẫy gần như khắp cả Trung nguyên, ngày nay lại bị thu hẹp còn có độc nhất một dân tộc Việt, 90 triệu trên mãnh đất chữ S, đứng trước một tiền đồ thật mong manh, chênh vênh không đảm bảo!”

Trong phần hai của buổi thuyết trình,  là giải đáp những thắc mắc của tham dự viên.  Một vài câu hỏi đi vào trọng tâm đề tài của buổi ra mắt sách còn lại đi ngoài đề tài với mục đích tìm hiểu thêm về lịch sử như ý nghĩa chữ đồng bào và nguồn gốc  Cơ – Lạc Long Quân vì thực sự người nghe chưa hiểu đủ trọn vẹn vấn đề. Theo lời ông Thái Hóa Lộc thay mặt ban tổ chức cũng đã chia sẻ: “Con đường của sử gia Phạm Trần Anh rất dài và nhiều khó khăn, trách nhiệm của những người lãnh đạo Cộng đồng, những người trẻ đang trong dòng chính cần tiếp tay và dấn thân nhiều hơn để tìm lại bản sắc nguồn gốc của dân tộc. Sự ngoại xâm chỉ là vấn đề thời gian, đất nước Việt Nam của chúng ta sẽ trường tồn mãi mãi…”

Nhân dịp này, ông bà Bác sĩ Nguyễn Ý Đức Trung Tâm Tuổi Vàng trao tặng một tấm plaque vinh danh và tri ân ông Phạm Trần Anh. Ban tổ chức trao tặng bó hoa và một chi phiếu một ngàn đồng cho nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Trần Anh gọi là góp phần trong công tác lớn lao mà ông đã hy sinh đeo đuổi.

Hiện diện trong buổi nói chuyện của nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Trần Anh, chúng tôi nhận thấy có phái đoàn Văn Bút Nam Hoa Kỳ, nhị vị cựu Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas bà Lê lam Ngọc, ông Phạm Quang Hậu, cựu Chủ tịch Hạt Tarrant cũng là đượng nhiệm Commissioner Tarrant County Andy Nguyễn. Về báo chí truyên thông có Đài VAE Live, báo Người Việt Dallas, Trẻ Magazine và Đài truyền hình VIETV Dallas 55.5.

Chương trình được phụ diễn văn nghệ. Trung tâm Tuổi Vàng có bữa ăn chiều khoản đãi kết thúc cho buổi ra mắt sách vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày.

Be the first to comment

Leave a Reply