Tài Liệu

Năm mươi năm biến cố Vịnh Bắc Việt (7/8/1964-7/8/2014)

Trọng Đạt

Diễn tiến

Trước hết tôi xin nói về diễn tiến của sự kiện lịch sử này theo lời cựu Bộ trưởng quốc phòng McNamara và nhận định của ông (1). Nước Mỹ tiến gần tới tuyên chiến tại Việt Nam đó là vụ Nghị quyết vịnh Bắc Việt tháng 8-1964. Những biến chuyển quanh Nghị quyết này cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi mâu thuẫn.

Trước tháng 8-1964 chỉ có một số ít người Mỹ không quan tâm đến diễn tiến ở VN, chiến tranh có vẻ còn xa nhưng biến cố Vịnh Bắc Việt đã thay đổi cái nhìn đó. Về đoản kỳ khi tầu chiến Mỹ bị tấn công trong vịnh và nghị quyết của Quốc hội sau đó đã đưa tới khả năng Mỹ can thiệp vào cuộc chiến chưa từng có trước đây. Theo McNamara điều quan trọng hơn là chính phủ Johnson đã xin Quốc hội ra Nghị quyết này để hợp thức hóa về mặt hiến pháp mọi hoạt động quân sự của Hành pháp Mỹ tại VN từ 1965.

Quốc hội nhìn nhận quyền hạn lớn của Nghị quyết dành cho Tổng Thống nhưng nó không có nghĩa như một tuyên chiến và cũng không có nghĩa đó là sự cho phép mở rộng lực lực lượng Mỹ tại VN từ 16,000 cố vấn lên 550,000 quân tác chiến. Bảo đảm sự tuyên chiến và cho phép quân tác chiến những năm sau đó chắc là không được.

Nhiều người coi chín ngày từ 30-7 tới 7-8-1964 như một giai đoạn nhiều tranh cãi nhất của cuộc chiến 25 năm. Qua nhiều thập niên, đã có nhiều tranh luận về những sự kiện tại vịnh, Hành pháp tường trình cho Quốc hội và người dân thế nào, xin Quốc hội quyền hành động và hai ông Tổng thống đã xử dụng quyền này qua các năm ra sao

McNamara nêu nên một số câu hỏi và tự ông trả lời như sau.

Tầu tuần duyên của Bắc Việt tấn công khu trục hạm Mỹ ngày 2-8 và 4-8-1964, có thật không?

Trả lời: ngày 2-4 thì chắc chắn không chối cãi được. Ngày 9-11-1995 tại Hà Nội, McNamara có gặp gỡ và nói chuyện với Võ nguyên Giáp, ông ta nói ngày 4-8 không có cuộc tấn công của tầu BV như người Mỹ tưởng.

Hồi đó và sau này một số vị dân cử Quốc hội và người dân Mỹ cho rằng chính phủ Johnson khiêu khích địch để có cớ leo thang chiến tranh và dùng mưu mẹo để được Quốc hội chấp thuận cho leo thang.

Trả lời: hoàn toàn không có chuyện này.

Tổng thống trả đũa, cho máy bay ném bom bốn căn cứ tầu tuần duyên và một kho nhiên liệu, như thế có đúng không?

Trả lời: có thể.

Những biến cố tại vịnh BV có liên hệ tới hai chiến dịch riêng rẽ của Mỹ trước đây: Kế hoạch 34A và DESOTO.

Từ tháng 1-1964 Hội đồng an ninh quốc gia đã chấp nhận cho CIA yểm trợ miền nam VN những hoạt động bí mật chống phá BV, mật danh 34A gồm hai hoạt động trước hết thả biệt kích ra Bắc, thứ hai dùng tầu tuần duyên nhỏ, tốc độ cao do người Việt hoặc Mỹ lái đánh phá bờ biển hoặc hải đảo BV những nơi được coi là xuất phát xâm nhập, yểm trợ VC tại miền nam, đánh rồi chạy (hit and run) .

DESOTO là một phần của hệ thống thám thính toàn cầu bằng điện tử do những tầu hải quân Mỹ chạy ngoài hải phận quốc tế. Những tầu này thu lượm những tín hiệu của radar, những truyền tin từ các trạm trên bờ các nước CS như Nga, Trung cộng, Bắc Hàn, Bắc Việt cũng giống như Nga dùng tầu lưới cá tại bờ biển Mỹ.

Tối 30-7 -1964, tầu tuần duyên của VNCH tấn công hai hải đảo thuộc vịnh BV được cho là dùng để yểm trợ xâm nhập miền nam VN. Sáng hôm sau khu trục hạm Mỹ Maddox đi vào vịnh (chiến dịch DESOTO ) rất xa các đảo. Hai ngày rưỡi sau tức 2-8 lúc 3 giờ 40 (giờ VN, tức 3 giờ 40 sáng Mỹ) tầu Maddox báo cáo bị những tầu tuần duyên cao tốc đuổi theo, một lúc sau bị tấn công bằng ngư lôi và súng tự động nhưng Maddox không bị trúng đạn hoặc hư hại. Thủy thủ lấy được những mảnh đạn trên boong tầu mà McNamara yêu cầu gửi cho ông làm bằng chứng. Trong quân sử của BV, họ xác nhận đã đưa ra lệnh tấn công Maddox, khi biến cố sẩy ta khu trục hạm này nằm ở hải phận quốc tế, cách bờ biển BV hơn 25 dặm.

Lúc 11:30 sáng (2-8) Tổng thống Johnson họp các cố vấn để nghiên cứu tình hình. Mọi người tin là do cấp chỉ huy địa phương BV hơn là do cấp lớn đã khởi động. Tổng thống vì thế không trả đũa mà chỉ gửi kháng thư cho Hà Nội, ông vẫn cho tiếp tục tuần tiễu, cho thêm khu trục hạm C.Turner Joy đi kèm. Maxwell Taylor, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn phản đối tại sao không giáng trả BV, có thể coi như Mỹ lùi bước không dám đối đầu với CS.

Vào lúc 3 giờ chiều hôm sau Dean Rusk (bộ trưởng ngoại giao) và McNamara thuyết trình cho các Thượng nghị sĩ thuộc Ủy ban ngoại vụ và Ủy ban quân sự để diễn tả chiến dịch 34A, DESOTO và tại sao Tổng thống đã không giáng trả địch. Hai ông cũng giải thích cho biết DESOTO không có ý khiêu khích BV để tầu Maddox bị tấn công, vẫn tiếp tục chiến dịch DESOTO.

Vào lúc 7 giờ sáng (7 giờ chiều VN) ngày 4-8 tầu Maddox cho biết bị tầu lạ tấn công. Một giờ sau tầu Maddox nói radar cho thấy ba tầu lạ. Hàng không mẫu hạm Ticonderoga ở gần đó đã cho máy bay tới yểm trợ hai tầu Mỹ Maddox và Turner Joy. Trời nhiều mây, có mưa bão lớn rất khó quan sát. Mấy tiếng sau hai tầu này báo cáo bị hơn hai mươi ngư lôi tấn công, thấy vệt sóng của ngư lôi, ánh đèn chiếu sáng trên boong tầu địch, súng tự động nhả đạn, radar của tầu Mỹ có báo hiệu.

McNamara cùng ông phụ tá họp với bộ tham mưu để đối phó. Mọi người đồng ý nếu báo cáo này đúng, cần trừng trị thích đáng kẻ tấn công tầu Mỹ ngoài hải phận quốc tế , vì thế họ vội triển khai ngay kế hoạch cho máy bay từ hàng không mẫu hạm đánh phá bốn căn cứ tầu tuần duyên và và hai kho nhiên liệu. Lúc 11 giờ 40 sáng, McNamara họp với Dean, Mac (Bundy) và các Tướng khác để duyệt lại quyết định, họ tiếp tục bàn tại phiên họp tại Hội đồng an ninh QG và họp với Tổng thống. Johnson đồng ý lần này nếu được xác nhận đúng cần phải trừng trị nhanh và mạnh.

Vấn đề còn lại là cuộc tấn công lần thứ hai có thật không?

Như đã nói tầm nhìn khi bị tấn công đợt hai rất hạn chế, vì thế và vì tiếng động máy dò tầu ngầm thường không đáng tin lắm cho thấy báo cáo về cuộc tấn công đợt hai (4-8) không chắc chắn lắm. Vì thế McNamara cố điều tra để tìm sự thật, ông yêu cầu Trung tướng David A Burchinal liên lạc hỏi Đô đốc Sharp ở Honolulu để biết hư thực. Lúc 1 giờ 27 chiều đại úy Herrick, người điều hành DESOTO trên tầu Maddox cho biết tin tức về việc bị tấn công bằng ngư lôi có vẻ nghi ngờ. Thời tiêt xấu ảnh hưởng radar có thể gây lên báo cáo đó, đề nghị lượng giá lại trước khi hành động. Bốn mươi phút sau Đô đốc Sharp gọi cho tướng Burchinal nói mặc dù đại úy Herrick nói thế nhưng ông vẫn tin là cuộc tấn công lần thứ hai (4-8) là có thật. McNamara gọi hỏi thẳng Sharp, ông này cho biết có vài nghi ngờ xong cũng tin có bị tấn công bằng một số ngư lôi, tầu Turner Joy báo cáo đánh chìm ba tầu tuần duyên, Maddox báo cáo đánh chìm một hoặc hai cái. McNamara nói khi nào biết chắc là có thật thì sẽ trả đũa. Sharp nói có thể có và sẽ điều tra thêm.

Lúc 4 giờ 47 McNamara họp với các tham mưu trưởng duyệt các chứng cớ liên quan cuộc tấn công, có năm yếu tố cho thấy cuộc tấn công có thật. Tầu Turner Joy bị chiếu sáng khi bị bắn bằng súng tự động, một trong hai khu trục hạm thấy đèn pha trên boong tầu tuần duyên, súng phòng không của họ đã bắn hai phi cơ Mỹ bay ở trên, đã bắt được và giải mã một bản tin của BV được biết họ có hai chiếc tầu bị bắn chìm. Đô đốc Sharp nói có thể có tấn công ngày 4-8. Đến 5 giờ 23 Đô đốc gọi Tướng Burchinal và nói chắc chắn có tấn công các khu trục hạm Mỹ.

Lúc 6 giờ 15 chiều, Hội đồng an ninh QG họp, McNamara kể sơ chứng cớ và đề nghị trả đũa. Mọi người nhất trí hành động, Tổng thống cho lệnh máy bay thuộc Hải quân trừng phạt. Lúc 6 giờ 45 TT Johnson, Dean Rusk, Bus Wheeler (Tham mưu trưởng mới), McNamara họp với các vị Chủ tịch ủy ban Quốc hội để thuyết trình sự việc, giải thích sự trừng phạt. Dean nói BV đã cố ý tấn công, ta cần trừng trị giới hạn. Tổng thống nói ông muốn đưa ra Quốc hội để xin yểm trợ cuộc chiến nếu cần, một số vị dân cử nói họ sẽ ủng hộ.

Lúc 7 giờ 22 hàng không mẫu hạm Ticonderoga và Constelletion được lệnh tấn công trả đũa. Tổng cộng có 64 phi vụ tấn công các căn cứ tuần duyên và kho dầu để trả đũa, chỉ là tấn công giới hạn

Mấy năm sau, tháng 2-1968 Thượng viện họp xét lại chứng cớ và chỉ trích tường trình của chính phủ. Năm 1972, Tordella, phụ tá giám đốc cơ quan an ninh QG kết luận bản tin nghe được của BV cho là lệnh tấn công ngày 4-8 thực ra là lệnh tấn công ngày 2-8. Cline, phụ tá giám đốc CIA 1964 trả lời một cuộc phỏng vấn năm 1984 nói thế. Phi công Stockdale, năm 1964 đã bay yểm trợ cho hai khu trục hạm Mỹ tối 4-8, sau này viết hồi ký nói tối hôm đó khi bay ngang hai khu trục hạm ông ta chẳng thấy cái tầu BV nào cả và nói chắc không hề có cuộc tấn công này.

Ngày 6-8-1964, lúc 9 giờ sáng các ông Dean, Bus, McNamara vào phòng họp với Ủy ban Ngoại vụ và Quân sự Thượng viện để xác nhận vụ tấn công 2-8 và 4-8 và xin Thượng viện ủng hộ. Dean nhấn mạnh cuộc tấn công này không phải là biến cố riêng mà nó nằm chung trong kế hoạch xâm chiếm miền Nam và các nước Đông nam Á. Sau đó nói chi tiết hai vụ tấn công, Tướng Bus cho biết các TMT nhất trí trả đũa, đó là thích đáng.

McNamara cho rằng Quốc hội hiểu quyền hạn rộng lớn mà Nghị quyết dành cho Tổng thống, nhưng chắc Quốc hội hiểu rằng Tổng thống sẽ không dùng nó mà không tham khảo cẩn thận tường tận với Quốc hội

Hôm sau, lưỡng viện bỏ phiếu bầu ngày 7-8. Thượng Viện thông qua Nghị quyết Tonkin Gulf Resolution với tỷ lệ 88-2, Hạ viện bỏ phiếu thuận hoàn toàn 416-0, tỷ lệ chung là 99.60%.

Nhiều người chỉ trích (sau này) cho rằng chuyện Vịnh có nhiểu âm mưu giả dối, họ lên án chính phủ mong được Quốc hội ủng hộ cuộc chiến tại Đông Dương, soạn thảo một nghị quyết, khiêu khích địch gây ra biến cố để được ủng hộ, McNamara nói những chỉ trích này vô căn cứ

Tổng thống không hề nghĩ Nghị quyết cần để đưa quân vào VN mà vài vị Tham mưu trưởng đã đề nghị từ tháng 1-1964, việc đưa quân vào cần có Quốc hội chấp thuận. Bộ Ngoại giao đã soạn một Nghị quyết từ cuối tháng năm nhưng vì Max Taylor khuyên nên hoãn chiến dịch quân sự tới tới mùa thu. Johnson, Dean, Mac, McNamara đồng ý và đã quyết định hoãn đưa dự thảo Nghị quyết ra Quốc hội chờ khi Đạo luật Nhân quyền đã được Thượng viện chấp thuận tháng Chín

Nhưng khi BV tấn công, Johnson thấy đó là cơ hội để được Quốc hội ủng hộ cuộc chiến chống lại âm mưu xâm lược của Hà Nội, hành động của ông cứng rắn nhưng vẫn ôn hòa so với ứng cử viên diều hâu Goldwater của đảng đối lập.

Năm 1977, George Ball (cựu thứ trưởng ngoại giao 1964) trả lời phỏng vấn đài BBC chỉ trích chính phủ đã mở chiến dịch DESOTO khiêu khích BV để có cớ trả đũa. Ngược lại Bill Bundy (CIA, cố vấn ngoại vụ TT 1964) cũng đã nói chuyện trên BBC, ông ta phủ nhận những lời cáo buộc như trên, theo Bill tình hình lúc đó (tại VNCH) chưa tồi tệ đến nỗi phải có biện pháp mạnh. Bill nói “Không có chuyện Chính phủ cố tình khiêu khích để tạo ra biến cố ấy” (2)

McNamara cho rằng nếu Nghị quyết vịnh Bắc Việt đã không đưa tới sự can thiệp quân sự lớn lao tại VN thì nó đã không gây nhiều tranh cãi như vậy. Nhưng nó dùng để mở cửa cho dòng thác lũ (đưa quân vào), McNamara nói tuy nhiên cho rằng chính phủ Johnson lừa gạt Quốc hội là sai. Vấn đề không phải là Quốc hội không nắm được khả năng của Nghị quyết mà là nhưng là không nắm được tiềm lực của cuộc chiến và chính phủ có thể đối phó với nó như thế nào. Trong phiên họp ngày 20-2-1968 để duyệt lại vấn đề này, Thượng nghị sĩ Fulbright vui vẻ từ bỏ lời đã kết án McNamara cố ý khiến cho Quốc hội sai lầm, ông nói “Tôi không bao giờ có cảm tưởng rằng tôi đã nghĩ ông cố tình gạt chúng tôi”, các Thượng nghị sĩ Mansfield , Claiborne Pell và Symington cũng xác nhận thế (3)

McNamara kết luận cơ bản của vấn đề Vịnh Bắc Việt không phải là sự lừa gạt nhưng nói đúng hơn là sự lạm dụng quyền hạn từ Nghị quyết. Ngôn ngữ của Nghị quyết cho Tổng thống quyền hành xử, và Quốc hội hiểu tầm vóc của quyền hạn khi họ ủng hộ tối đa Nghị quyết ngày 7-8-1964. Nhưng chắc chắn là Quốc hội không có ý định cho phép xa hơn trong việc tăng vọt từ 16,000 lính Mỹ lên 550,000 tại VN mà không tham khảo đầy đủ với Quốc hội. Nó khiến chiến tranh mở rộng lớn có nguy cơ kéo Nga, Trung Cộng vào cuộc và đã mở rộng sự can thiệp của Mỹ tại VN trong nhiều năm.

Vấn đề Quyền hạn của Quốc hội đối nghịch với quyền Tổng thống về điều động quân đội vẫn còn tranh cãi cho tới nay. Căn nguyên của sự tranh chấp này nằm ở chỗ văn tự Hiến Pháp mơ hồ, nó trao Tổng thống quyền Tổng tư lệnh nhưng lại cho Quốc hội quyền tuyên chiến.

Những nhận định khác.

Trên đây là nội dung vấn đề theo diễn tả và ý kiến của McNamara, nhân vật đóng vai trò then chốt trong chiến tranh VN giai đoạn 1963-1968. Tôi xin ghi thêm nhận xét và ý kiến của các chính khách và nhà nghiên cứu khác để vấn đề được nhìn thêm dưới nhiều khía cạnh. Về cuộc tấn công hai ngày 2-8 và 4-8 qua sự tường thuật của các tác giả có khác nhau về chi tiết, có thể vì do tam sao thất bản, tôi chú trọng về ý kiến riêng của họ nhiều hơn

Về biến cố này cựu Tổng thống Nixon nói (4) ngày 2-8 tầu tuấn duyên BV tấn công khu trục hạm Maddox tại vịnh trên bằng ngư lôi nhưng không gây thiệt hại, và sau đó ngày 4-8 họ lại tấn công hai tầu Maddox và C Turner Joy. Nhiều năm sau, các ký giả phản chiến xác định rằng cuộc tấn công 4-8 của BV không hề có, họ kết án Johnson và quân đội ngụy tạo ra để lấy cớ can thiệp vào cuộc chiến. Nixon kết luận là không có chứng cớ nào cho thấy Mỹ khiêu khích, ngay quân sử của BV cũng kể lại chuyện này.

Ông cũng nói Nghị quyết vịnh BV không phải là mưu mẹo để được rộng quyền tham chiến như một số người kết án nhưng nó là một cố gắng lương thiện để được Quốc hội yểm trợ cho việc can thiệp sâu rộng hơn mà nó buộc ta phải gánh vác. Nghị quyết của Johnson không phải là lý do người Mỹ vào VN, nó xác nhận rằng các cuộc tấn công này chỉ là một phần của chiến dịch xâm lược có hệ thống của CSBV đối với các nước láng giềng, các nước liên kết chiến đấu cho tự do. Quốc hội chấp thuận và ủng hộ quyết định của Tổng thống, với cương vị Tổng tư lệnh, bằng mọi cách đẩy lui những lực lượng gây hấn với Hoa Kỳ và phòng ngừa những gây hấn trong tương lai.

Nixon nói “Chúng ta không lâm chiến vì hai cuộc tấn công nhỏ ngoài khơi nhưng vì Bắc Việt đang ra sức chiếm trọn Đông dương” (5). Nhiều người trách Johnson không xin Quốc hội tuyên chiến. Quốc hội và Ngũ giác đài không tuyên chiến vì họ không ngờ cuộc chiến lại kéo dài như thế, Johnson tưởng là oanh tạc chiến thuật tại miền nam VN và oanh tạc giới hạn tại BV sẽ khiến Hà nội từ bỏ xâm lược, tuyên chiến có thể lôi kéo Nga Trung Cộng nhập cuộc. Johnson không muốn chiến tranh khi ông chuẩn bị ứng cử Tổng thống năm 1964. Hạ viện chỉ họp trong bốn mươi phút và đồng thuận 100% (480-0), Thượng viện bàn thảo 8 tiếng cuối cùng bầu với 88 thuận, 2 chống. Nixon nói sự kiện chứng tỏ Quốc hội đã ủng hộ vô cùng vững chắc.

Những người ủng hộ Nghị quyết về sau họ chống chiến tranh kết án Johnson lừa gạt Quốc hội để vượt quá quyền hạn của mình. Nixon cho là không phải như thế, bản ghi âm cuộc thảo luận tại Thượng viện cho thấy Quốc hội tham chiến với con mắt mở to, hoàn toàn tự nguyện. Nghị quyết này không phải chỉ là căn bản hợp pháp để lâm chiến, Johnson cũng hành động phù hợp với những điều khoản an ninh của Tổ chức Liên phòng Đông nam Á (SEATO). Vả lại Quốc hội cũng hành xử quyền hạn chiến tranh của mình hàng năm khi họ chi tiền cho quân đội Mỹ tại VN.

Tác giả Bernard C. Nalty (6) nói ngày 2-8 ba tầu tuần duyên BV đuổi theo tầu Maddox đang ở ngoài hải phận quốc tế, tầu BV đã phóng ba ngư lôi nhưng không trúng mục tiêu. Tầu Maddox bắn trả bằng đại bác 127 ly gây thiệt hại nặng cho hai tầu BV, phi cơ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga tới yểm trợ.

Về cuộc tấn công ngày 4-8, Nalty nói BV gây hấn hay người Mỹ tưởng tượng? ông tỏ vẻ nghi ngờ biến cố này. Hôm sau Tổng thống Johnson cho tăng cường thêm khu trục hạm C Turner Joy, ngày 4-8 người chuyên viên radar trên tầu Maddox báo cáo có năm tầu phóng ngư lôi đang đuổi theo, sau đó cả hai thuyền trưởng của Maddox và C. Turner Joy quả quyết là họ bị tấn công và gọi máy bay yểm trợ đồng thời cho khai hỏa, họ báo cáo là bắn chìm hai tầu BV và làm hư hại hai cái khác.

Theo tác giả có nhiều chỉ trích gồm cả các viên chức tình báo, lời của họ đã được viết vào Văn kiện Ngũ giác đài, sau này nó xác nhận “tầu địch” chẳng qua chỉ là những tiếng “blip”của radar do những đợt sóng phía sau tầu C Turner Joy gây ra mà những chuyên viên radar chưa có kinh nghiệm của tầu Maddox đã tưởng lầm. Tuy nhiên các vị chỉ huy tại chiến trường xác nhận là có tấn công và tin rằng BV đáng bị trừng phạt giới hạn, Tổng thống Johnson quyết định trả đũa, cho không kích các căn cứ xuất phát tấn công nhưng không có mục đích mở rộng chiến tranh. Các phi cơ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga và Constellation tấn công bốn căn cứ hải quân và một kho dầu của BV. Khoảng 25 tầu tuần duyên bị phá hủy, 90% các kho dầu tại Vinh bị bốc cháy. Hai máy bay Mỹ bị phòng không bắn rơi, hai chiêc khác bị hư hại.

Thăm dò cho thấy sau cuộc tấn công trả đũa, người dân Mỹ ủng hộ hành động của Johnson rất cao.

Tác giả Marilyn B. Young (7) nhận xét: nhiều năm sau Nghị quyết khi sự lừa dối được phát hiện và Quốc hội muốn tự tách ra khỏi cuộc chiến mà chính họ đã phê chuẩn năm 1964, nhiều Thượng nghị sĩ than phiền rằng nếu họ biết sự thật thì họ đã chống lại Nghị quyết. Dân biểu Dante, Florida nói ông Tổng thống có nhu cầu quyền hạn, một biến cố tình cờ có thể đem lại quyền lực cho ông. Quốc hội nghĩ oanh tạc BV sẽ khiến họ chấm dứt chiến tranh. Họ cũng nghĩ như Hành pháp, nếu Mỹ khiến CS trả giá cao thì sẽ ngưng xâm lược miền nam. James Thomson (1964 trong Hội đồng an ninh GQ) trong một phiên họp của Thượng viện năm 1968 nói biến cố Vịnh lần sau (4-8) là cách thuận lợi chứng tỏ ý chí của chung mà chẳng cần có chứng cớ rõ ràng để tham dự cuộc chiến. Thượng viện sau này đánh giá Hành pháp Johnson sai lầm khi nghĩ rằng dùng oanh tạc hay sức mạnh quân sự có thể khiến Hà nội bị khuất phục.

Không cần biết chuyện gì sẩy ra ở Vịnh BV, việc đưa ra Quốc hội thành công mà các cố vấn của Tổng thống đã khuyên ông làm để đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến. Theo Marilyn B. Young Hà nội quyết tâm đi vào cuộc chiến, tháng 10-1964 họ đã đưa ba trung đoàn chính qui khoảng 4,500 người vào Nam, chiến dịch oanh tạc của Johnson không khiến Hà nội phải đầu hàng mà còn mở rộng cuộc chiến hơn nữa, cuối cùng Johnson không tìm được hòa bình như ông đã hứa với người dân.

Tác giả Stanley Karnow (8) nói tổng cộng cuộc oanh kích trả đũa BV của Johnson gồm 64 phi vụ, có khoảng 25 tầu bị phá hủy hoặc hư hại, Mỹ bị mất hai máy bay. McNamara hồi đó cho biết ông đã có bốn công điện của BV cho thấy họ cho lệnh tấn công tối 4-8, những công điện này được giữ bí mật từ đó. Nhưng hoặc ông hiểu sai công điện hay cố tình dấu diếm nó, theo một cựu viên chức Mỹ rành về những bản truyền tin của địch thì đó không phải là lệnh tấn công (attack orders) mà McNamara hiểu nhưng là lệnh của bộ chỉ huy cho các tầu tuần duyên chuẩn bị tác chiến (military operations) mà có thể là tự vệ. Ray Cline phụ tá giàm đốc CIA hồi đó, đã phân tách sự khác biệt chính giữa hai cuộc tấn công là: sau khi duyệt xét những hồ sơ thì chỉ thấy nó liến quan đến cuộc tấn công trước (2-8)

Kết Luận

Những năm đầu thập niên 60, người dân Mỹ và Quốc hội ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến tranh VN vì quá sợ CS, họ tin rằng nếu mất miền nam VN hay Đông dương sẽ mất Đông nam Á. Tất cả sách báo, thống kê về giai đoạn này, nhất là 1964 đều nói đa số, đại đa số người dân, thậm chí có tài liệu nói 78% hoặc 85% (9) ủng hộ cuộc chiến, đại đa số Quốc hội ủng hộ cuộc chiến. Tháng 8-1964 Johnson đưa ra Quốc hội xin Nghị quyết Đông nam Á và đã được chấp thuận với tên Nghị quyết Vịnh Bắc Việt ngày 7-8-1964 với tỷ lệ tối đa 99.60% số phiếu thuận choTổng thống can thiệp vào cuộc chiến ngăn chận CS tại VN.

Trường hợp nếu Johnson -McNamara dùng oanh tạc khuất phục được BV, mang lại hòa bình thì sẽ không có ai đề cập tới Nghị quyết này. Nhưng sau khi được Quốc hội cho phép hành động, Johnson McNamara đã đem hơn nửa triệu quân vào miền nam VN trong mấy năm chiến tranh nhưng không thắng được CS, cuộc chiến ngày càng mở rộng. Sau trận Tết Mậu Thân tháng 2-1968 số người ủng hộ chiến tranh tụt thang nhanh chóng, tỷ lệ chống chiến tranh tăng nhanh. Khi ấy người ta kết tội Johnson đã gây lên cuộc chiến sa lầy, họ bèn xét lại Nghị quyết và lên án ông đã lừa gạt Quốc hội để đưa nước Mỹ can thiệp vào VN. Sau đó tới màn bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu và duyệt xét lại Nghị quyết để kết luận không có cuộc tấn công lần thứ hai ngày 4-8 của tầu tuần duyên BV mà do McNamara và ban tham mưu bịa ra trình Tổng thống lường gạt Quốc hội, nghĩa là chỉ Johnson McNamara là chịu trách nhiệm, người dân và Quốc hội không có gì đáng chê trách!

Như đã nói trên buổi chiều tối 4-8 chuyên viên radar trên tầu Maddox cho biết nhận được tín hiệu bị tấn công bằng ngư lôi, các thủy thủ trên tầu Turner Joy xác nhận đã nhìn thấy đèn pha chiếu sáng từ tầu địch và thấy súng tự động bắn, súng phòng không bắn hai máy bay Mỹ bay trên cao (10). Hai thuyền trưởng trên hai khu trục hạm Maddox và C Turner Joy báo động và ra lệnh bắn trả tối đa về hướng nghi ngờ, không có lửa tại sao lại có khói?

Thuyền trưởng kêu gọi không quân yểm trợ, Stockdale một trong các phi công từ hàng không mẫu hạm bay tới, ông đảo trên trời một tiếng rưỡi và không thấy chiếc tầu nào của BV mà chỉ thấy tầu Mỹ bắn loạn xạ trên mặt biển, sau này viết hồi ký kể lại như vậy

Đô đốc Sharp, Tư lệnh Thái bình dương dựa theo báo cáo của hai thuyền trưởng để tường trình với McNamara và ông này trình lên Tổng thống như đã nói trên. Mặc dù chứng cớ về cuộc tấn công này có vẻ mơ hồ nhưng phản bác của những người chống đối cũng không có gì là cụ thể, chỉ là “lý sự”, thí dụ họ nói các chuyên viên radar thiếu kinh nghiệm, tưởng lấm, những năm sau giải mật các bản công điện của BV thì thấy chắc là lệnh tự vệ chứ không phải lệnh tấn công. Đó cũng chỉ là một cách hiểu khác, giải thích khác cũng như người ta giải nghĩa những câu văn trong Kinh Dịch, mỗi người hiểu một cách. Ngoài ra những bản công điện, vô tuyến điện thoại của BV chưa chắc đáng tin cậy, họ thường đưa tin giả để nghi binh, Đại tá Nguyễn trọng Luật, cựu tỉnh trưởng Ban mê Thuột cho biết CSBV thừa biết đối phương hay nghe lén điện thoại, công diện nên họ đã đưa nhiều tin giả để lừa địch.

Nhưng vấn đề là Johnson McNamara có cần phải khiếu khích BV và tạo biến cố giả tại Vịnh Bắc việt để đánh lừa Quốc hội hay không trong khi cuộc chiến giữa Mỹ-VNCH với Hà nội đã thực sự diễn ra từ 1959? :

Ngày 13-5-1959 tại Hà Nội, CSBV đã mở Hội nghị thứ 15, ra Nghị quyết phát động chiến tranh chiếm miền nam bằng vũ lực (11). Họ thành lập đoàn 559 đưa người vũ khí xâm nhập miền nam qua Lào và hai tháng sau đoàn 779 xâm nhập đường biển. Năm 1959 có hơn 2,500 vụ ám sát các viên chức chính phủ, gấp hai lần năm 1958 (12). Ngày 12-12-1960, CSBV thành lập Mặt trận giải phóng miền nam tại Hà nội, chính thức ra mắt ngày 20-12-1960 (13). Ngày 18-9-1961 hai tiểu đoàn VC chiếm tỉnh lỵ Phước Thành trọn một ngày, giết tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và 10 công chức, tổng cộng có 17,000 cán binh xâm nhập miền nam. Ngày 18-10-1961 Tổng thống VNCH ban hành tình trạng khẩn cấp toàn quốc (14). Năm 1962 cố vấn Mỹ gia tăng 11,300 người, quân đội VNCH tăng lên 220,000 người (15).

Đầu tháng 1-1963 trận Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho, VC bắn rơi 4 trực thăng Mỹ và bắn cháy ba M113, VNCH thiệt hại 63 người, Mỹ có 3 người chết, VC chết 41 nguời (16). Ngày 23-11-1963 tại trận Hiệp Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa có 41 Dân sự chiến đấu miền nam bị giết, 120 bị thương , 32 mất tích, VC bỏ lại 7 xác, 4 lực lượng đặc biệt Mỹ mất tích (17). Ngày 1-1-1964 VC pháo kích phi trường Biên hòa, phá hủy 6 máy bay B-57, làm hư hại 20 cái khác , giết 5 người Mỹ, 2 VN, 76 bị thương (18). Từ 1959 cho tới 1962 có 100 cố vấn Mỹ bị giết, tới cuối 1964, tổng cộng có 416 người Mỹ bị giết chưa kể số người bị thương và bị bắt làm tù binh (19). Từ cuối 1964, đầu 1965 Hà nội công khai đưa quân chính qui vào nam. Như thế chiến tranh đã diễn ra rất sôi động rồi, cần gì phải tìm lý do?

Johnson chẳng thiếu gì chứng cớ để xin Quốc hội ủng hộ, đâu cần phải ngụy tạo biến cố Vịnh Bắc Việt ? dù có hay không Nghị quyết thì cuộc chiến tranh giữa Mỹ-VNCH với Hà nội đã diễn ra từ lâu rồi.

Ngoài ra Johnson không phải diều hâu, ông chủ trương hòa bình, dùng oanh tạc đe dọa để Hà nội thấy cái giá phải trả mà từ bỏ cuộc chiến xâm lược, khác với ứng cử viên đối lập Goldwater chủ trương đánh mạnh hơn nữa. Năm 1965 khi tình hình quân sự tại miền nam rất xấu, Cộng quân gia tăng xâm nhập tấn công liên tục, Quân đội miền nam bị thiệt hại nhiều, Tướng Westmoreland khẩn khoản xin McNamara và Johnson gửi thêm quân tác chiến để cứu nguy miền nam. Mặc dù vậy, Johnson vẫn chần chừ, ông thăm dò các cố vấn, hỏi ý kiến cựu Tổng thống Eisenhower đến khi mọi người khuyên ông phải tăng quân theo yêu cầu của Tư lệnh, Johnson mới chịu dấn thân. Ông leo thang khi Hà Nội đã gia tăng xâm nhập, tấn công mạnh để làm sụp đổ VNCH. Trong khi đại đa số người dân, Quốc hội ủng hộ cổ võ cuộc chiến, nó đã gián tiếp lôi cuốn Johnson can thiệp, ông tham gia cuộc chiến để khỏi mất phiếu vì bị cho là nhu nhược

Nguyên do TT Johnson không muốn tham gia cuộc chiến VN vì sợ nó sẽ làm hỏng chương trình chương trình phúc lợi xã hội Great Society của ông gồm medicaire, cải tổ di dân, chống nghèo, làm dịu kỳ thị chủng tộc, nâng đỡ nhân quyền…. Johnson nghĩ ngân sách quốc phòng sẽ làm hỏng chương trình xã hội của ông.

Nếu nói là Johnson lừa gạt Quốc hội để được chấp thuận Nghị quyết Vịnh BV 1964 rồi đem quân vào VN là không đúng vì dù không có Nghị quyết này ông vẫn có thể đem quân vào VN mà không cần đưa ra Quốc hội vì hồi đó chưa có Nghị quyết War Powers Resolution, giới hạn quyền Tổng thống trong chiến tranh mà mãi tới năm 1973 mới có.

(Tháng 8- 1973 War Powers Resolution được ban hành, nó qui định TT phải tham khảo Quốc Hội trước khi tham chiến. Sau khi tham khảo, TT có quyền tham chiến trong 60 ngày không cần sự chấp thuận của Quốc Hội và thêm 30 ngày nữa….)

Trường hợp TT Johnson gần giống TT Bush năm 2003 khi ông đã được Quốc hội và người dân ủng hộ cuộc chiến Iraq, nhưng mấy năm sau khi bị sa lầy người ta chỉ trích ông lừa gạt người dân vì không tìm thấy vũ khí giết người hàng loạt. Tuy nhiên trường hợp Johnson có hơi khác là ông không muốn tham chiến vì chuẩn bị ứng cử, vì chương trình phúc lợi xã hội.. còn Bush muốn chiến tranh, nhiều người nói cuộc chiến Iraq là do ý muốn của chính ông.

Người ta chỉ trích chiến dịch oanh tạc BV thất bại, Johnson không làm cho BV chịu thua cuộc nhưng cả Quốc hội, người dân cũng tin vào kế hoạch này. Không riêng gì Johnson mà cả nước Mỹ sai lầm vì chủ quan, khinh địch, đánh giá quá thấp đối phương cũng như CS quốc tế, quá tin tưởng vào sức mạnh của mình. Chiến dịch thất bại một phần vì hỏa lực phòng không địch rất mạnh, người Mỹ không nghĩ CS quốc tế viện trợ cho Hà Nội dồi dào như thế, từ đầu chí cuối họ đã cung cấp cho BV 3,229 khẩu cao xạ; 20,000 hỏa tiễn địa-không (SAM) (20)

Phản chiến nói TT Johnson lừa Quốc hội để có Nghị quyết vịnh BV, từ Nghị quyết này đi tới cuộc chiến lớn và sa lầy tại VN, có nghĩa vì sự lừa gạt mà đưa tới cuộc chiến VN. Nhận định này không có căn cứ vì như đã nói dù không có biến cố vịnh BV Johnson cũng có những lý do khác để đưa ra Quốc hội, và thậm chí dù không có Nghị quyết Vịnh BV 1964, ông vẫn có thể đưa quân vào VN được vì ông là Tổng tư lệnh quân đội, vì tình hình đòi hỏi và vì hồi đó chưa có Nghị quyết hạn chế quyền Tổng thống (1973).

Những người chống chiến tranh và cả McNamara sau này cho là cuộc chiến VN sai lầm, nhưng nếu sai lầm tại sao không rút bỏ VN từ giữa thập niên 60? Tháng 12-1964, Hội đồng quân lực VNCH đã yêu cầu Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Trần văn Hương trục xuất Đại sứ Mỹ Taylor mà họ cho là có thái độ hách dịch (21). Trong tường trình cuối năm về Tòa Bạch ốc, Taylor có đề nghị rút bỏ miền nam VN (22) nhưng không được ai chú ý. McNamara (hồi ký trang 320) cho là đáng lý Mỹ phải rút bỏ miền nam từ cuối 1963 hay cuối 1964 hoặc đầu 1965.

Nói cho oai thôi chứ trên thực tế Hoa kỳ vẫn bám vào miền nam VN kỹ lắm, mặc dù 1965, 1966 phản chiến tại Mỹ lên cao, ngay tại miền nam cũng có nhóm quá khích chống chiến tranh1966 nhưng họ cũng không dám rút bỏ. Người Mỹ chỉ rút bỏ VN năm 1975 sau khi đã hòa được với CS quốc tế.

Những năm 1964, 1965 Hoa Kỳ có thể lựa chọn hoặc tham chiến hoặc rút bỏ miền nam VN hay không? Thực ra họ không có con đường nào khác hơn là can thiệp vào cuộc chiến VN để giữ Đông nam Á, để bảo vệ an ninh cho chính họ, bảo vệ cho chính quyền lợi của nước Mỹ.

Như thế không thể kết luận chỉ có Johnson là người đã đưa nước Mỹ vào cuộc chiến sa lầy.

Năm 1964, 65 người dân Mỹ ủng hộ chính phủ can thiệp vào VN với tỷ lệ rất cao nhưng người dân thay đổi ý kiến rất nhanh nhất là sau trận Mậu Thân 1968 họ trở mặt chống đối chiến tranh VN dữ dội. Năm 1964 tỷ lệ ủng hộ lên tới trên 70% như đã nói trên , năm 1965 tỷ lệ ủng hộ 61% , tới cuối 1968 chỉ còn 37% (23).

Ngày 8-6-1969, Tổng thống Nixon họp với Tổng thống Thiệu tại Midway để bàn về kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, nghĩa là Mỹ rút quân và quân đội VNCH sẽ tự đảm nhiệm cuộc chiến chống CS. Chương trình này do Bộ trưởng quốc phòng Laird đề nghị được Nixon chấp thuận vì phong trào phản chiến đã lên quá cao. Người chống đối mạnh là Kissinger với lý luận nếu rút quân sẽ mất thế mạnh tại bàn Hội nghị, CSBV chỉ chờ có thế (24). Ngoài ra TT Thiệu, Tướng Abrams (cựu Tư lệnh) cũng khinh bỉ kế hoạch này, đó chỉ là sự tháo chạy trá hình.

Kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh đưa tới học thuyết Nixon chủ trương biệt lập (isolationism), không can thiệp. Thời kỳ can thiệp (interventionism) bắt đầu bắt đầu 24- 2-1947 khi Tổng thống Truman quyết định bảo vệ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ khỏi tay CS. Thời kỳ can thiệp kéo dài 22 năm đã chấm dứt vào ngày 25-7-1969 khi trung đoàn I thuộc sư đoàn 9 BB Mỹ trở về nước từ Quân khu 4 VNCH.

Học thuyết Nixon thực ra chỉ là để khoác cho việc rút quân, Việt nam hóa chiến tranh một vẻ đẹp hơn là bỏ chạy một cách khéo léo, lịch sự. Trên thực tế khi cần bảo vệ an ninh cho Mỹ, bảo vệ quyền lợi của Mỹ họ vẫn đưa quân sang nước khác như tại Afghanistan năm 2001 và Iraq năm 2003.

Năm 2014, Tổng thống Obama bị dư luận và đảng đối lập chỉ trích mạnh vì chính sách ngoại giao không can thiệp hiện nay trước những biến cố lớn như tình hình Nga gây hấn tại Ukraine, cuộc nội chiến tàn khốc tại Syria và Iraq. Ở đây tôi không bình luận về chính sách của TT Obama nhưng chỉ đề cập những lý do đưa tới quyết định của ông.

Thường thì các Tổng thống Mỹ nghe theo ý kiến các cố vấn, ban tham mưu, thí dụ tháng 4 -1954 TT Eisenhower nghe theo các tham mưu trưởng nên đã không can thiệp vào Đông dương cứu nguy Điện Biên Phủ, cũng vậy năm 1963 TT Kennedy đã nghe theo Bộ trưởng quốc phòng McNamara quyết định rút dần các cố vấn Mỹ để tránh can thiệp vào cuộc chiến VN ….

TT Obama cũng đã được các cố vấn góp ý, họ e ngại sa lầy nếu can thiệp quân sự hoặc viện trợ quân sự cho Iraq, Syria, Ukraine. Bài học của TT Johnson năm 1964, 65 và của TT Bush năm 2003 vẫn còn đó, người dân ủng hộ cuộc chiến mạnh rồi sẽ trở mặt chống đối một sớm một chiều. Không can thiệp bị lên án, chống đối nhưng tham chiến cũng có thể mang họa nếu sa lầy như các bài học đã qua.

Trọng Đạt

Chú thích

(1) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam, trang 127-143

(2) In Retrospect trang 140

(3) In Retrospect trang 141

(4) No More Vietnams trang 73-76

(5) No More Vietnams trang 74

(6) The Vietnam war, trang 81, 82

(7) The Vietnam war 1945-1990, trang 120-123

(8) Vietnam a History trang 388,389

(9) Vietnam a History trang 390; answer.com, domino theory

(10) In Retrospect trang 134

(11) Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1955-1963, trang 152

(12) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập trang 61

(13) VN Niên Biểu trang 206

(14) VN Niên Biểu trang 228,229

(15) Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 61

(16) Sách kể trên trang 63.

(17) Sách kể trên trang 94,95

(18) The World Almanac of The Vietnam War trang 95

(19) National Archives, Statistical Information about Fatal Casualties of the Vietnam War

(20) Đăng Phong, Năm Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí thức Hà nội 2008, trang 120, 121

(21) Lâm vĩnh Thế, VNCH 1963-1967, Những Năm Xáo Trộn trang 98

(22) In Retrospect, trang 164

(23) Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

(24) Walter Isaacson, Kissinger a Biography trang 235, 236


Giao Chỉ: Người Việt Trong Quân Đội Hoa Kỳ

on July 15, 2014 7:11 AM in Hải Ngoại / 2 comments


Lính Mỹ gốc Việt

Nếu viết cho đúng thì gọi là người Mỹ gốc Việt gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên văn chương bình dân chúng ta thường nói chuyện người Việt mình đi lính Mỹ. Thực ra, không phải đi lính Mỹ như các cụ nhà ta đăng lính Tây thời đệ nhất và đệ nhị thế chiến. Nhập ngũ ở đây là theo đuổi binh nghiệp, tham dự vào công cuộc bảo vệ đất nước thực sự, đúng theo tinh thần đã tuyên thệ khi nhập tịch. Nhập ngũ theo Lục Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Hải Quân, Không Quân, Tuần Duyên, Đoàn Ủy Nhiệm Y Tế Công Cộng, Đoàn Ủy Nhiệm Quản Trị Khí Quyển và Đại Dương Quốc Gia. Gọi chung là lính hết. Nhưng trong đó có 50% là sĩ quan và có nhiều chiến binh gốc Việt mọi cấp bậc. Trong hàng ngũ sĩ quan đã có cả tướng lãnh và rất nhiều đại tá. Cũng có các chiến binh gốc Việt sinh ra tại Mỹ mới nhập ngũ vài năm. Nhưng trong số kể trên đôi khi có các sĩ quan VNCH khi gia nhập quân đội Mỹ tuổi đã ngoài 30. Tháng 5 vừa qua, tôi có dịp gặp vị đó.

Đại tá y sĩ Nguyễn Dương

Ông là bác sĩ của cả 2 đạo quân. Bác sĩ Nguyễn Dương vốn là sinh viên của trường quân y VNCH đã tốt nghiệp. Ra trường ông trở thành trung úy y sĩ đi hành quân miền Tây thuộc sư đoàn 9 Bộ binh. Sau đó ông có dịp thuyên chuyển về không quân Sài Gòn ở cấp đại úy cho đến khi mất nước. Quân vụ với VNCH vừa đủ 11 năm. Khi cộng sản chiếm miền Nam, ông chạy qua Mỹ lại đèn sách học lại. Tốt nghiệp bác sĩ Hoa Kỳ, ông là người hiếm hoi đã có quyết định hết sức khác biệt. Bác sĩ Dương xin gia nhập quân đội Mỹ được đeo lon đại úy. Thay vì mở phòng mạch như các đồng nghiệp, ông đã trở thành đại úy y sĩ hiện dịch quân đội Mỹ phục vụ các đơn vị, các binh chủng và khắp các các chiến trường. Đóng quân từ Cali qua Âu châu và Trung đông. Tại Đức ông đã từng là y sĩ trưởng của sư đoàn 1 thiết giáp Hoa Kỳ. Bác sĩ Dương với cấp bậc trung tá đã cùng sư đoàn thiết giáp có mặt tại Trung Đông ngay từ thời kỳ Mỹ đánh trận giải phóng Kuwait. Tại mặt trận ông đã có dịp chỉ huy trên 60 y sĩ phục vụ khắp các đơn vị. Trên youtube biết bao người vào xem đã thấy quân đội Mỹ tổ chức lễ chia tay nhân dịp đại tá y sĩ Nguyễn Dương về hưu năm 1992 hết sức long trọng. Trong tác phẩm song ngữ viết về binh nghiệp và những chuyến đi của tác giả có bài tựa của đại tướng Griffith hết sức ca ngợi bác sĩ Dương. Hai người đã từng cùng phục vụ tại sư đoàn 9 tại miền Tây, ông cố vấn Mỹ và vị y sĩ quân y Việt Nam. Tình cờ lại cùng về sư đoàn thiết giáp Hoa Kỳ.Tướng tư lệnh và vị y sĩ trưởng của sư đoàn. Nói chuyện với bác sĩ Dương, chúng tôi nghiệm ra rằng có lẽ thật hiếm hoi mới có người đeo lon đại úy của 2 đạo quân. Thân phận chạy qua Mỹ như chúng tôi, từ đại tá xuống làm thợ sơn xe tải. Mấy ai đeo lon đại úy y sĩ Việt Nam mà lại lập tức thành bác sĩ quân y cho Hoa Kỳ. Tổng cộng cả 2 quân vụ Việt Mỹ của đại tá Dương là 31 năm. Thâm niên hơn các tướng lãnh VNCH.

Đại tá lê dương Trần Đình Vỵ

Trần đình Vỵ 1949 Nam Định

Ở bên Pháp tôi có ông bạn là đại tá Vỵ. Ông Trần đình Vỵ sinh năm 1928 cùng quê Nam Định có trên 25 năm quân vụ Việt Nam từ trung sĩ 1949 lên đến đại tá VNCH 1975. Qua Pháp ông đăng vào đạo quân Lê Dương với cấp bậc thiếu tá. Sau cùng giải ngũ với cấp đại tá binh đoàn Légion Étrangère năm 1988. Quân vụ thuộc 2 đạo quân hơn 35 năm. Còn nhiều hơn đại tá Dương tại Hoa Kỳ. Bạn già Trần đình Vỵ ở Paris vừa viết bài kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ đăng trên tạp chí quân sử Pháp “Carnet de la Sabretache”. Bài tiểu luận tưởng niệm cho các chiến binh Việt Nam, các lao công và cả chị em ta mà số phận nghiệt ngã tình cờ có mặt trên chiến trường đã hy sinh tại trận Điện Biên Phủ. Số phận của họ chưa bao giờ được ghi nhận suốt 60 năm qua dù rằng quân số Việt Nam chiếm 50% tổng số hiện diện trong căn cứ.

Ông Vỵ và đại tá y sĩ Hoàng cơ Lân 2013 Paris

Trong khi tháng 7 này, tại Hoa kỳ chúng tôi tổ chức tưởng niệm 60 năm Genève chia đôi đất nước thì ngày 14 tháng 7-2014 ông Vỵ và đại tá y sĩ Hoàng cơ Lân lại có dịp cầm cờ VNCH đứng bên nhau để tưởng niệm các chiến binh Việt Nam.

VAAFA

Trở lại với hàng ngũ các chiến binh VN trong quân đội Mỹ, tôi nghĩ rằng nhiều người có trên 20 năm quân vụ. Muốn biết rõ phải tìm vào hồ sơ của hội VAAFA. Cái hội khá đặc biệt có tên là Vietnamese American Armed Forces Association. Tên Việt Nam là Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt. Tôi phải dành ra cả buổi tối để nói chuyện với trung tá quân báo hải quân là anh Nguyễn Anh Tuấn. Trung tá Tuấn vẫn còn tại ngũ và hiện giúp cho hội đặc biệt về mặt phát triển hội viên. Anh cho tôi biết tổng số người Việt trong quân đội Mỹ trên 5.000 người và có hơn 650 người gia nhập chính thức vào tổ chức VAAFA. Anh có vẻ chưa hài lòng vì còn hơn 4.000 người chưa tham gia. Thực ra tỷ lệ 650+ trên 5.000 là tỷ lệ hết sức cao. Tổ chức cộng đồng Việt Nam trên khắp các địa phương chưa bao giờ có được tỷ lệ như thế. Lại hỏi anh Tuấn là thâm niên quân vụ của các bạn ra sao. Anh nói đã có 28 năm lính. Cùng nhập ngũ 1 thời với anh Lương Xuân Việt. Phần anh Cao Nguyên trung tá công binh với 28 năm quân vụ mới giải ngũ. Cao Nguyên hiện là chủ tịch hội VAAFA và mới thêm tân hội viên là con trai của anh vừa tốt nghiệp West Point. Hội phó là cô trung tá thuộc Đoàn Ủy Nhiệm Y Tế Công Cộng của Hoa Kỳ .Tuy nhiên người thâm niên nhất của Việt Nam hiện nay là một Warrant Officer bậc 5, anh Phạm Kim đã có đến 37 năm quân vụ. Xem chừng anh Kim gia nhập quân đội 1976 từ khi mới đến Mỹ sau 1975, rồi cứ thong thả đi từ lính lên đến hàng cao nhất của ngành chuyên môn. Cấp bậc Warrant Officer của Hoa Kỳ lại có đến 5 hạng từ 1 đến 5. QLVNCH thì chỉ có một cấp duy nhất tương đương là chuẩn úy. Chẳng có danh từ nào khác để so sánh. Tuy nhiên, tôi rất ngạc nhiên là từ chuẩn tướng Việt, đại tá Huấn, các trung tá Nguyễn Cao Nguyên, Trung tá Nguyễn Anh Tuấn dù qua Mỹ từ nhỏ nhưng tiếng Việt hết sức lưu loát. Tất cả đều là thành viên của VAAFA, quan tâm đến VNCH, QLVNCH và cộng đồng Việt. Xa hơn nữa sự quan tâm vô cùng quý giá hướng đến quê hương Việt Nam và việc đấu tranh cho tự do dân chủ. Lẽ dĩ nhiên các bạn không quên vấn đề biển Đông và vấn nạn bá quyền Trung Quốc. Một cách hết sức thành thực, US Navy Commander Nguyễn Anh Tuấn nói rằng khi mới nhập ngũ hơn 28 năm trước anh không thể nói về ý nghĩa của một chiến binh gốc Việt đối với cá nhân, đất nước và cộng đổng. Nhưng ngày nay đã tự học được rất nhiều. Thực vậy, khi được biết 90% các anh chị là con cháu của các chiến binh VNCH, chúng ta có thêm sự thông cảm và niềm tự hào về con đường nối gót cha anh của thế hệ nối tiếp.

Tin mừng thăng cấp

Trung tá Cao Nguyên và đại tá Nguyễn Huấn, bạn sinh viên và tình chiến hữu

Như quý vị đã biết, hội VAAFA kỳ này có nhiều tin mừng thăng cấp. Trong hàng ngũ lên cấp đại tá có trung tá Nguyễn Huấn thuộc đơn vị miền Đông. Anh đã được gắn lon vào ngày 1 tháng 7-2014. Anh là con trai duy nhất 9 tuổi của cố đại tá thiết giáp Nguyễn Tuấn, Thủ Đức K1, một trong những anh hùng của QLVNCH đã hy sinh trong trận chiến Tết Mậu Thân. Tháng 4 -75 cậu bé đi cùng gia đình ông chú qua Mỹ và bây giờ trở thành trung tá Huấn thăng cấp đại tá tháng 7- 2014. Nguyễn Huấn là con người đã hết sức nỗ lực, vươn lên từ thảm kịch để trở thành đại tá của quân lực Hoa Kỳ. Thực là 1 hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Anh Huấn sống trong cô đơn từ 68 đến 75. Cậu bé không có hoàn cảnh để chia xẻ với gia đình trong nỗi đoạn trường tháng tư 75 và phải tiếp tục phấn đấu một mình cho đến khi tốt nghiệp đại học, nhập ngũ và trở thành sĩ quan cao cấp đeo trên vai đôi chim ưng cánh bạc của quân lực Hoa Kỳ. Anh đã sống suốt cuộc đời cho cả gia đình.

Chuẩn tướng Lương Xuân Việt

Về phần đại tá Lương Xuân Việt lên chuẩn tướng làm lễ gắn lon vào tháng 7 tại Texas. Đây là bản doanh của sư đoàn không kỵ do anh Việt là tư lệnh phó hành quân. Đơn vị này có tướng 2 sao chỉ huy với 2 tư lệnh phó. Một ông về tiếp vận và 1 ông về hành quân. Ông tư lệnh sư đoàn mới lên 2 sao. Bây giờ đến ông tư lệnh phó là người Việt tỵ nạn đầu tiên lên cấp tướng trong quân đội Mỹ. Lục quân đã chuẩn bị cẩn thận cho các vì sao trong quân ngũ. Sau khi trải qua các cấp từ đại đội đến tiểu đoàn trưởng, đại tá Việt nhận chỉ huy một lữ đoàn nhẩy dù tại mặt trận Trung Đông. Hết thời hạn, ông được đưa về theo học đại học Stanford rồi về bộ quốc phòng. Tiếp theo là về nhận chức vụ tư lệnh phó sư đoàn để được đề nghị lên tướng. Con đường lên tướng cũng gian nan vất vả nên Hoa Kỳ không thể có tướng trẻ. Tối thiểu cũng có 20 năm trưởng thành và 25 năm quân vụ.Với 49 tuổi mà lên tướng như anh Việt là khá đặc biệt. Ngay khi có giấy tờ đề nghị, cô vợ anh Việt được mời đi học lớp chuẩn bị làm vợ ông tướng. Thật thú vị nếu chúng ta có dịp đọc qua bài vở của lớp đặc biệt này. Tác phong ngôn ngữ, trang phục ra sao. Có cả một chương dành cho việc giữ cho các tướng quân đừng léng phéng với cuộc đời, được các phu nhân hết sức chú ý. Mới đây có ông chuẩn tướng Mỹ trải qua cuộc tình ngang trái với cô đầm Paris bị giải ngũ với cấp bậc trung tá. Các bà tướng Hoa Kỳ cho rằng khi tướng công qua Trung Đông tác chiến lại bình yên hơn đi công vụ Âu Châu. Thật ra quân nhân Mỹ gốc Việt có rất nhiều chuyện cần được sưu tầm và nhắc nhở thí dụ một nhân tài nữa là đại tá hải quân Lê Bá Hùng hiện làm phụ tá chánh văn phòng cho bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, ông Chuck Hagel. Đại tá Hùng trong địa vị này, hy vọng trong bốn năm nữa sẽ là vị đề đốc đầu tiên Mỹ gốc Việt của chúng ta. Tuy nhiên, gương sáng huy hoàng không phải chỉ dành cho những quân nhân còn lại, giây phút tưởng niệm luôn luôn nghĩ đến những chiến binh đã ra đi. Các thành viên xuất sắc đi trước thành công vẻ vang ở cấp trên cũng chỉ là viên gạch lót đường cho giới trẻ cấp dưới mới nhập ngũ trong hiện tại và tương lai. Con đường binh nghiệp phục vụ cho quê hương mới cũng không giới hạn trong biên giới Hoa Kỳ. Người Việt tham dự vào đoàn quân lê dương như đại tá Trần Đình Vỵ tại Pháp không phải là duy nhất. Đã có nhiều chiến binh gốc Việt phục vụ cho thế giới tự do tại Âu châu, Canada, Úc châu và cả Do Thái. Nhập ngũ luôn luôn là hành động tích cực nhất để thể hiện tinh thần công dân. Khi anh chị trở thành công dân gương mẫu tại nơi định cư, đó là phuơng cách đấu tranh tốt đẹp nhất cho dân sinh tại quê hương mới và dân quyến tại quê nhà.

60 năm đêm giã từ Hà Nội

Ngày 20 tháng 7-2914 chúng tôi tổ chức tưởng niệm 60 năm Genève chia đôi đất nước, anh em hội VAAFA có về dự. Các bạn trẻ có dịp ghi nhận bài học lịch sử từ thế hệ cha anh. Thế hệ đàn anh có dịp cảm nhận niềm hãnh diện của tương lai trong tay những bước chân đi tới…. Năm 2014 chúng ta ghi dấu 60 năm giã từ Hà Nội. Qua năm 2015, lại ghi dấu 40 năm từ giã Sài Gòn. Những kỷ niệm đau buồn của quá khứ ghi nhận trong hiện tại sẽ là hành trang quý giá cho tương lai.

Giao Chỉ, San Jose


Cô bé lọ lem Việt Nam trở thành công chúa vương quốc kim cương ở châu Phi

Bản đồ nước Trung Phi và Tổng Thống Trung Phi  Bokassa.

1* Mở bài

 Năm 1972, dư luận xôn xao về câu chuyện “cô bé lọ lem” người Việt Nam bỗng nhiên trở thành công chúa vương quốc kim cương ở châu Phi. Đó là tổng thống nước Cộng Hòa Trung Phi, Bokassa, nhờ chính phủ Việt Nam Cộng Hò

a tìm giùm đứa con của ông với một phụ nữ Việt Nam khi ông là trung sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp trước năm 1954 tại Sài Gòn.

Chánh phủ đã nhanh chóng tìm được cô gái con lai da đen tên Nguyễn Thị Bái, Baxí, con của bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia định là con của Bokassa. Cô Baxí nghèo khổ bỗng nhiên trở thành công chúa nên được xem như câu chuyện cổ tích trong đó cô bé lọ lem trở thành công chúa.

Dư luận vừa lắng xuống thì bỗng nhiên nhật báo Trắng Đen làm sôi động trở lại bằng những phóng sự về “công chúa giả, công chúa thật”, gây ồn ào như một quả bom nổ tung trong giới truyền thông Việt Nam. Những người hiếu kỳ, tò mò mua báo Trắng Đen để theo dõi xem kết cuộc câu chuyện ra sao. Nếu “công chúa bốc vác” là thật, thì số phận công chúa giả Baxí sẽ ra sao? Vì bản thân cô Baxí và mẹ là bà Ba Thân biết được rằng họ không phải là con, là vợ của trung sĩ lê dương Bokassa.

Trước mắt là báo Trắng Đen hốt bạc. Câu chuyện không còn nằm trong việc thật, giả của hai phụ nữ Việt Nam với ông Tây da đen vì ảnh hưởng của nó rất to lớn, có liên quan đến việc làm “mất thể diện quốc gia” và nhật báo Trắng Đen có thể bị đóng cửa.

Báo Trắng Đen đã hành động cẩn thận, khôn khéo với kế hoạch bí mật nên cuối cùng mang “công chúa thật” tên Martine đến trao cho Bokassa ở Trung Phi.

2* Tổng thống Trung Phi tìm con

ce bo le lem

Tổng thống nước Cộng Hòa Trung Phi.

Năm 1972, Tổng thống nước Cộng Hòa Trung Phi (Central African Republic), Jean-Bédel Bokassa, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm đứa con thất lạc ở Sài Gòn. Bokassa là cựu quân nhân trong quân đội viễn chinh Pháp nên có quan hệ chặt chẽ với nước Pháp.Thế là Toà Đại sứ Pháp ở Sài Gòn nhờ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tìm giùm người con của Bokassa.

Giới chức Việt Nam nhanh chóng tìm ra cô gái lai, da đen tên Nguyễn Thị Bái, thường gọi là Baxí, con của bà Ba Thân ở Xóm Gà, Cây Quéo, Gia Định.

Bộ Ngoại giao Pháp đứng trung gian đưa Baxí đến Trung Phi. Tổng thống Bokassa mở tiệc ăn mừng rất lớn để đón con gái trên 15 năm chưa biết mặt.

Tin tức về Tổng thống Bokassa tìm lại con được truyền thông Việt Nam và ngoại quốc rầm rộ đưa tin, ca ngợi người cha có tình có nghĩa. Cô Baxí nghèo khổ ở Xóm Gà bỗng nhiên trở thành công chúa của vương quốc kim cương, cho nên được ví như cô bé lọ lem trong chuyện cổ tích.

Hình ảnh và tên tuổi Bokassa gặp lại con gái được báo chí đăng trên trang nhất, đưa đến một khiếu nại, cho rằng đó là “công chúa” giả, mà con ruột của người trung sĩ Bokassa hiện còn đang sống với mẹ ở Việt Nam.

3* Baxí là “công chúa giả”

3.1. Bằng chứng con ruột của Bokassa

ce bo le lem 2

Hình Nguyễn Thị Huệ                 Báo Trắng Đen.

Năm 1972, vào buổi trưa, một người đàn ông khoảng 50 tuổi mang tập hồ sơ đến tòa soạn báo Trắng Đen, nhờ giúp đở nói lên sự thật về thân thế người con gái của tổng thống Bokassa với người phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Huệ.

Ông Sáu, tự nhận là em của bà Huệ, cho biết bà Huệ và con gái tên Nguyễn Thị Martine hiện đang sống ở Chợ Nhỏ, trước trường sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức. Hồ sơ gồm có tấm hình bà Huệ chụp chung với người lính lê dương, trung sĩ Bokassa, giấy khai sanh của Martine và tấm hình Martine, đúng là cô gái da đen, “đầu quăn môi trớt”.

Nhà báo Nguyễn Việt là người trực ở tòa soạn báo Trắng Đen vào buổi trưa hôm đó thuật lại nội dung như đã nói trên.

Sự việc được lập tức thông báo cho chủ nhiệm kiêm chủ bút Việt Định Phương, và ông chủ nhiệm lái xe đến tòa soạn ngay sau đó. Kinh nghiệm làm báo cho biết đây là một sự việc nóng hổi, một tin tức giựt gân vô cùng hào hứng sau những ồn ào về cô bé lọ lem Ba Xí ở Xóm Gà, Gia Định, bỗng nhiên trở thành công chúa của vương quốc kim cương ở châu Phi.

3.2. Sự việc không đơn giản

Đào sâu vấn đề thì thấy đây là sự việc không đơn giản, còn nhiều việc cần phải được làm sáng tỏ.

1. Nếu Ba Xí là “công chúa giả” thì vì sao mà người ta đưa cô ta đến Trung Phi và được tổng thống Bokassa công nhận làm con.

2. Hiện tại, báo Trắng Đen chỉ nắm hồ sơ về phía bà Huệ và Martine, còn hồ sơ của Ba Xí thì chưa được biết.

3. Việc làm sáng tỏ “công chúa thật” và “công chúa giả” là bứt mây động rừng, có liên quan đến chính quyền VNCH, tòa đại sứ Pháp, vụ việc có thể làm mất thể diện quốc gia, và không tránh khỏi áp lực của Bộ Thông tin, Thông Tấn Xã Việt Nam, là hai cơ quan kiểm soát báo chí, đưa đến việc tờ báo bị đóng cửa, nhất là Bộ Ngoại giao VNCH và báo chí đã nêu thành tích về vụ tìm ra đứa con của tổng thống Trung Phi.

4. Hồ sơ hộ tịch của bà Huệ và Martine cần phải điều tra để xác nhận đó là sự thật.

5. Cần phải có ý kiến của tổng thống Bokassa, nếu ông nầy tiếp tục công nhận Ba Xí là con ruột thì kế hoạch kể như phải hủy bỏ.

6. Nếu như áp lực nào đó khiến cho bà Huệ “phản cung” thì việc cũng không thành.

Bà Nguyễn Thị Huệ chấp nhận những điều kiện do chủ nhiệm Việt Định Phương đưa ra. Trắng Đen quyết định nhập cuộc, làm sáng tỏ thân phận người con thật của tổng thống Bokassa. Buổi họp toàn thể nhân viên tòa báo được thực hiện ngay buổi chiều ngày hôm đó.

Một kế hoạch hành động gồm những điểm như sau:

1. Giữ bí mật.

Báo Trắng Đen giữ độc quyền khai thác việc nầy. Martine được đưa đến một nơi bí mật để tránh tiếp xúc với phóng viên các báo khác. Bà Huệ và thân nhân chỉ được cung cấp tin tức cho báo Trắng Đen mà thôi. Nhân viên báo Trắng Đen không được tiết lộ nơi ở bí mật của Martine, cũng không được để rò rĩ tin tức vụ việc ra ngoài, phòng hờ việc chính quyền can thiệp. Giữ hoàn toàn bí mật trong những bước điều tra xác minh sự thật.

2. Bí mật gởi hồ sơ đến tổng thống Trung Phi bằng nhiều đường dây khác nhau để có được quyết định của Bokassa.

Trước hết cho người xuống một xã ở Rừng Sác, quận Nhà Bè để xác nhận khai sanh của Nguyễn Thị Martine. Việc nầy được ký giả Lam Hồng Cúc thực hiện thành công một cách tài tình. Nữ ký giả nầy mặc quần áo bà ba đen, đội nón lá, không phấn son trang điểm, đã khéo léo moi tin tức và nhận được khai sanh chánh gốc tên đứa trẻ là Nguyễn Thị Martine, sinh ngày 2-2-1955. Mẹ là Nguyễn Thị Huệ, cha là Bokassa.

3.3. Nghiệp vụ báo chí

1). Trước hết đặt “nghi vấn” về Ba Xí là “công chúa giả”

Bài báo đầu tiên không đi thẳng vào vấn đề thật giả về “công chúa lọ lem” mà đặt nghi vấn là con thật của Bokassa hiện đang sống ở Sài Gòn. Đó là tiếng chuông mở màn gióng lên khiến cho độc giả và những người tò mò mua báo theo dõi câu chuyện. Nhà báo chuyên nghiệp có khả năng tung ra những độc chiêu để câu người đọc. Kết quả là số lượng báo phát từ con số 80,000 mỗi ngày tăng lên gấp đôi là 160,000 rồi lên 200,000

Máy in Typo phải chạy suốt ngày đêm mới cung cấp cho đủ số theo nhu cầu của độc giả.

“Nghi vấn” của bài báo đầu tiên khiến cho nhà cầm quyền nghĩ rằng báo Trắng Đen không có hồ sơ thật, mà đó có thể là cái mánh phao tin vịt mà các báo thỉnh thoảng đã có làm.

Khi sự việc chính thức bùng nổ thì Bộ Thông Tin Chiêu Hồi gởi công văn đến báo Trắng Đen, cho thời hạn 3 ngày phải có sự xác nhận của tổng thống Trung Phi. Thời hạn ngắn ngủi nầy được xem như một bản án sắp đóng cửa tờ báo. Mọi người lo âu, hồi hộp đợi chờ.

2). Tổng thống Bokassa nhận con

Tổng thống Bokassa & Bokassa Martine

Việc chuyển hồ sơ Martine đến tổng thống Trung Phi thì được đặc phái viên Trắng Đen ở Paris thực hiện. Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa công nhận, chính ông và bà Huệ là người trong hình. Thế là một công điện và công văn gởi cho chính phủ VNCH và báo Trắng Đen.

Một đại diện của tổng thống Trung Phi được gởi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang quê cha.

Chính quyền và Bộ Ngoai giao VNCH bị kẹt cứng và báo Trắng Đen thành công.

4* Phái đoàn đưa Martine về Trung Phi

Một đại diện cao cấp của nước Trung Phi qua Việt Nam hướng dẫn phái đoàn đưa Martine về quê cha. Ông bà Việt Định Phương chủ nhiệm báo Trắng Đen, bà Nguyễn Thị Huệ và Martine, một tùy viên sứ quán Pháp vừa đại diện nước Pháp vừa làm thông dịch viên.

Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn báo Trắng Đen như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ.

Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì bà đã có chồng khác. Riêng “công chúa giả” Baxí cũng được nhận làm con nuôi.

Về sau bà Huệ được trợ cấp mỗi tháng là 200,000$ đồng từ Pháp Á ngân hàng. Số tiền nầy mua được 5 lượng vàng vào thời đó.

5* Mở hội kén rể và tổ chức đám cưới tập thể

Đám cưới Martine Bokassa và Baxí (1973)       BaXí trong ngày cưới.

Năm 1973, Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái Martine Bokassa và con nuôi là Baxí. Buổi lễ được tổ chức long trọng tại dinh thự quốc gia, với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan chính phủ. Hàng trăm thanh niên Trung Phi ghi tên tham dự. Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxí.

Sau đó một đám cưới được tổ chức linh đình tại dinh thự quốc gia.

Martine Bokassa có 3 con: con trai tên Jean-Barthélémy Dévéavode Bokassa, (cũng được gọi là JBB). Con gái tên Marie Cathérine Yokovo Dévéavode-Bokassa. Con gái út tên Marie-Jeanne Bokassa.

Baxí cũng sanh một con trai nhưng bị giết chết hai tuần lễ sau khi ra đời.

6* Số phận của hai công chúa Trung Phi

6.1. Số phận hẩm hiu của Baxí

Người biết rõ Baxí không phải là con của Bokassa chính là bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia Định, vì bà không phải là vợ của Bokassa. Baxí là “công chúa giả”, là mạo nhận.

Từ một đứa con lai nghèo khổ mà bỗng nhiên trở thành một công chúa sống trong cảnh giàu sang nhưng số phận hẩm hiu, bi đát.

Năm 1976, chồng Baxí là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung, bị xử tử vì một âm mưu lật đổ Bokassa bất thành. Ngày chồng chết thì Baxí sanh được một đứa con trai, nhưng hai tuần sau đó thì đứa bé bị bác sĩ quân y, chồng của Martine Bokassa, giết chết bằng chích một mủi thuốc độc.

Đúng một năm sau ngày chồng bị giết, Baxí được chính thức trở về Sài Gòn, nhưng bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết và dấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Hưởng vinh hoa phú quý được 7 năm.

6.2. Số phận của Martine Bokassa

Tổng thống Bokassa hình trái  – Bokassa Martine và con hình giữa và bên phải.

Ngày 21-9-1979, Pháp tổ chức lật đổ Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất và buộc ông phải sống lưu vong tại Côte d’Ivoire. Chồng của Martine Bokassa bị xử tử về tội giết con của Baxí và là thuộc gia đình độc tài. Martine và 3 đứa con thoát được qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ được đón sang Pháp sống với Martine.

Tên mới ở Pháp là Martine Kota, làm chủ hai nhà hàng, một ở Pháp, một ở đảo Corse.

Con trai tên Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30-8-1974 tại thủ đô Bangui, biết nói tiếng Việt với mẹ. Anh ta viết cuốn sách tựa đề The Diamonds of Treasons nói về ông ngoại Bokassa bị phản bội.

7* Chuyện tình anh lính lê dương

Năm 1953, trung sĩ nhất Bokassa được tăng cường về Biên Hoà làm nhiệm vụ gác Cầu Gành ở Cù Lao Phố.

Hồi đó, ở chân Cầu Gành có một cái phông tên cung cấp nước công cộng để người dân gánh về dùng. Nguyễn Thị Huệ là một trong những cô gánh nước ở phông tên đó.

Sau giờ gác cầu, trung sĩ Bokassa lân la đến phông tên để tán gái. Phụ nữ Việt Nam thời đó rất sợ những tên lính lê dương, nhất là những tên lính đen thùi, mặt gạch Sénégalais vì bọn chúng thường hãm hiếp phụ nữ trong những cuộc đi ruồng bố.

Khi anh lính lê dương đến phông tên thì các cô gái đều né tránh. Ban đầu cô Huệ cũng không dám đến phông tên nhưng vì phải gánh nước mới có tiền nên phải liều.

Bokassa tập nói tiếng Việt, phát âm lơ lớ làm cho cô Huệ phì cười. Anh lê dương cũng cười theo, để lộ hàm răng trắng phếu. Dần dà, những cử chỉ ngô nghê nhát gái của anh lính da đen làm cho cô Huệ có cảm tình hơn sợ sệt.

Tình cảm nẩy nở. Mỗi lần quảy đôi thùng ra phông tên, cô có ý trông chờ anh lính châu Phi. Bokassa càng tỏ ra thân mật hơn, chinh phục “người đẹp” bằng những quà tặng. Cái khăn, chai dầu thơm, xấp vải may quần áo, có khi cũng tặng tiền cho cô gái Việt gánh nước mướn.

Một ngày cuối tuần, Bokassa đưa cô gái về Sài Gòn. Kết quả cuộc tình là cái bào thai trong bụng cô Huệ.

Người cha không chịu nổi trước cái bụng ngày càng to của con gái, nên bỏ nhà ra đi. Bà mẹ chết lặng người nước mắt tuôn tràn.

Cô Huệ bật khóc, ôm lấy người yêu. Hai người dắt nhau về mướn nhà ở xã Tân Thuận Đông, thuộc quận Nhà Bè, nơi đơn vị của Bokassa đóng quân gần đó.

Tình cảm mặn nồng bỗng nhiên bị sụp đổ trước cảnh biệt ly: anh lính lê dương chia tay người vợ đang mang bầu, xuống tàu về nước sau khi Hiệp định Genève 1954 ra đời.

Cô Huệ về Rừng Sác sanh ra đứa con gái, mình mẫy đen ngòm như lọ nồi, tóc quắn, môi dầy, đặt tên là Nguyễn Thị Martine. Tiền bạc Bokassa để lại không bao nhiêu cho nên mẹ con cô Huệ lâm vào cảnh túng quẫn. Cô phải làm đủ nghề, đi khắp nơi và sau cùng, vì sinh kế nên về sống với người chồng ở Chợ Nhỏ, quận Thủ Đức.

Martine lớn lên giúp đỡ mẹ từ việc bán đậu phộng, bánh mì, trà đá…Năm 1972, vào làm phu khuân vác trong nhà máy xi măng Hà Tiên, nằm bên xa lộ Sài Gòn Biên Hoà thuộc quận Thủ Đức. Cuộc sống lam lủ, đem mồ hôi đổi lấy bát cơm qua ngày, không dám mơ ước có một sự “đổi đời” nào vì đã nằm trong số phận của những đứa con lai của lính viễn chinh Pháp.

Một ngày cuối năm 1972, đang bốc vác thì người cậu xuất hiện kêu: “Đi về thay đồ chuẩn bị đi gặp ba mầy làm tổng thống”.

8* Nước Cộng hòa Trung Phi

Bản đồ và quốc kỳ Cộng Hòa Trung Phi.

Cộng hòa Trung Phi (Tiếng Pháp-République Centrafricaine) là một quốc gia miền trung Phi Châu. Bắc giáp nước Chad và Sudan, đông giáp Nam Sudan, phía nam là Congo và Zair, tây giáp Cameroon.

Diện tích: 622,436km2. Bangui là thủ đô. Dân số 4,422,000. 11% dân số từ 15 đến 49 tuổi bị nhiễn HIV/AIDS. Dân cư gồm 80 sắc tộc khác nhau, có ngôn ngữ khác nhau. 80% dân số theo đạo Thiên Chúa, đa số là Tin Lành.

Kinh tế. Trung Phi là nước nghèo ở Phi Châu. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp. Công nghiệp kim cương chiến 40% số hàng xuất cảng.

ce bo le lem 3

Vài hình ảnh tại đất nước Trung Phi.

9* Tổng thống Jean-Bédel Bokassa

9.1. Tiểu sử

Jean-Bédel Bokassa (22-2-1921 – 3-11-1996), thuộc bộ lạc M’Baka, Trung Phi..

Ngày 13-11-1927, người cha tên Mindongon bị thực dân Pháp xử tử nơi công cộng về tội phá rối trật tự trị an. Người mẹ tên Yokowo Marie tự tử chết một tuần lễ sau đó. Cậu bé Bokassa mồ côi cha mẹ lúc 6 tuổi, được ông nội nuôi dưỡng. Học trường đạo Saint Jeane d’Arc, rồi lên trung học ở trường Saint Louis.


Năm 1939 (18 tuổi) xin đăng lính vào quân đội Pháp. Năm 1950 Bokassa có mặt trong đoàn quân viễn chính Pháp, đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn. Trung sĩ Bokassa có thời gian được cử đến giữ cầu ở Cù Lao Phố Biên Hòa. Người lính lê dương nầy sống như vợ chồng với một phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Huệ.

9.2. Về gia đình Bokassa

Bokassa có 19 vợ, 13 vợ trong số đó là những người ở nhiều quốc gia khác nhau mà phần lớn mà ông lấy từ những chuyến công du ra nước ngoài. Mỗi bà vợ được gọi bằng tên quốc gia như: “bà Đức”, “bà Bỉ”, “bà Lebanese”, “bà Pháp”, “bà Angola”, “bà Gabon”, “bà Việt Nam”…

Người vợ thứ sáu được tôn làm hoàng hậu tên là Cathérine Denguiadé.

Nổi tiếng nhất là “bà Roumanie”, tóc vàng. Ông gặp bà nầy ở một hộp đêm trong chuyến viếng thăm tổng thống Ceausescu. Bà nầy có cuộc sống tình dục ngoài lề rất mạnh, làm cho mất mạng những người đàn ông dính líu tới bà. Khi bị phát hiện, bà để đứa con gái lại cho Bokassa, bà về nước.

Trong hồi ký tại nước Pháp, Bokassa tiết lộ ông đã từng chia xẻ những bà vợ cho ông Valéry Giscard d’Estaing. (He shared women with President VGE)

9.3. Sự nghiệp quân sự

Sau Hiệp định Genève, ngày 20-7-1954, quân đội Pháp rút ra khỏi Việt Nam. Trong khi bà Huệ mang thai thì Bokassa theo đoàn quân viễn chinh xuống tàu về nước.

Phục vụ 23 năm trong quân đội Pháp, cấp bậc sau cùng là đại úy. Được thưởng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Năm 1959, Bokassa được giao nhiệm vụ thành lập quân đội Trung Phi, và làm chỉ huy trưởng lực lượng nầy. Ngày 13-8-1960 Pháp trả độc lập lại cho Trung Phi. Nước Cộng Hòa Trung Phi ra đời và tổng thống đầu tiên là David Dacko.

Năm 1964, tổng thống David Dacko lập bang giao với Trung Cộng. Một phái đoàn Trung Cộng do Meng Yieng và các viên chức chính phủ thăm viếng Trung Phi. Họ đi khắp nơi trình chiếu những phim tuyên truyền CNCS. Tiếp theo Trung Cộng hứa cho vay một tỷ đồng franc, không có lãi suất.

Năm 1965, Trung Phi khủng hoảng kinh tế và chính trị, tham nhũng hoành hành. Ảnh hưởng của Bokassa tăng lên trong quân đội làm cho Dacko nghi ngại. Tổng thống Dacko cử Bokassa cầm đầu một phái đoàn sang Pháp chúc mừng và dự lễ Quốc Khánh 14 tháng 7. Sau lễ Bokassa bị cấm, không cho trở về nước.

9.4. Bokassa đảo chánh lật đổ tổng thống David Dacko

Ngày 4-12-1977 Bokassa tự xưng Hoàng đế Đế Quốc Trung Phi.

Bokassa vận động sự ủng hộ của Pháp và quân đội Trung Phi nên Dacko buộc phải cho về nước. Tình trạng căng thẳng hai bên gia tăng. Ngày 31-12-1965, trong lúc Dacko đi thăm đồn điền của một bộ trưởng chính phủ thì Bokassa làm cuộc đảo chánh, bắt nhốt Dacko rồi sau đó buộc lưu vong qua Pháp.

Năm 1972, sửa đổi hiến pháp, lên làm tổng thống muôn năm.

Ngày 4-12-1977 Bokassa tự xưng Hoàng đế Bokassa Đệ Nhất, đổi tên nước từ Cộng Hòa Trung Phi (Central African Republic) thành Đế Quốc Trung Phi (Central African Empire). Lễ xưng vương tốn 20 triệu đô la, chiếc vòng bằng vàng nạm kim cương 5 triệu USD, nặng 2kg.

9.5. Bokassa bị truất phế và sống lưu vong

Ngày 21-9-1979 trong khi đang viếng thăm Tổng thống Muammar Gaddafi của Libya, thì Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing mở chiến dịch bí mật mang tên Barracuda lật đổ Bokassa. Ông bị buộc phải sống lưu vong ở nước Côte d’Ivoire (Ivory Coast) thời gian 4 năm, sau đó Pháp cho ông được đến tỵ nạn chính trị ở tại lâu đài của ông tên Château d’Hardricourt cách Paris 80km.

Pháp đưa cựu tổng thống David Dacko trở lại làm tổng thống thứ ba sau khi Trung Phi được trả độc lập.

Trong thời gian 7 năm sống lưu vong, Bokassa viết cuốn hồi ký trong đó phàn nàn rằng chính phủ không trả đầy đủ tiền lương hưu 23 năm của ông là quân nhân trong quân đội Pháp. Đặc biệt hơn nữa, ông tiết lộ tổng thống Valéry Giscard d’Estaing, khi còn giữ chức bộ trưởng tài chánh trong chính phủ Georges Pompidou, đã thường xuyên đến Trung Phi để được chung chạ với những người vợ của mình. (He shared women with President VGE) Bokassa cũng tiết lộ đã trao cho ông nhiều tặng phẩm trong đó có một viên kim cương 30 carats trị giá ¼ triệu franc (250,000)

Chính quyền Pháp ra lịnh tịch thu và tiêu hủy 8,000 cuốn hồi ký đó. Vụ xì căng đan là một trong những lý do khiến cho ông Valéry Giscard d’Estaing bị thất bại trong cuộc tái tranh cử tổng thống cuối năm 1981.

Sự hiện diện của Bokassa ở Pháp làm cho những bộ trưởng trước kia đã từng ủng hộ ông, họ cảm thấy khó chịu.

Đó có thể là lý do khiến ông trở về Trung Phi nơi đã tuyên án tử hình khiếm diện sau khi bị truất phế năm 1979.

9.6. Bokassa trở về Trung Phi lãnh án tử hình

Ngày 24-10-1986 Bokassa tự ý trở về thủ đô Bangui, nơi mà ông bị kết án tử hình vắng mặt sau vụ lật đổ hồi năm 1979. Vừa bước chân xuống phi trường thì bị bắt giam.

Ngày 12-6-1987, Tòa kết án tử hình về 14 tội, gồm giết những người đối lập chính trị, xa hoa phung phí tài sản quốc gia, giết hàng trăm học sinh đã phản đối việc bắt buộc phải mua và mặc đồng phục đắt tiền do công ty của một người vợ ông làm chủ. Những học sinh đã ném đá vào chiếc xe Rolls Joyce khi ông đi ngang qua cuộc biểu tình. Tất cả có 180 học sinh bị bắt giam. Đêm đầu tiên ông đến nhà giam, la hét vào đám học sinh và dùng gậy cầm tay đánh vở sọ 5 thiếu niên. Ông ra lịnh cai tù giết bọn họ. Và cuối cùng chỉ có 27 người sống sót và ra tòa làm chứng.

Bokassa cũng bị buộc tội ăn thịt người (cannibalism). Các bộ lạc châu Phi có tục ăn thịt người và luật pháp Trung Phi cấm việc đó, nhưng Bokassa đã sáng chế thịt người thành một món ăn mà ông ta ưa thích. Đó là thịt của tù nhân.

Sau đó năm 1988 giảm án xuống còn tù chung thân, rồi được phóng thích ngày 1-9-1993. Tiếp tục sống ở Trung Phi và qua đời ngày 3-11-1996. (75 tuổi). Để lại 17 vợ và 54 con ruột và con nuôi.

10* Kết luận

Trung Phi hiện nay vẫn còn nằm trong tình trạng chung của lục địa đen nầy. Đó là độc tài, tham nhũng, nghèo đói, bịnh tật, thất học, là cái vòng lẩn quẩn khó thoát ra được. Nghèo đói sinh ra thất học, thất học sinh ra nghèo đói, nghèo đói sinh ra tham nhũng, tham nhũng đưa đến độc tài, độc tài sinh ra tranh giành quyền lực, đảo chánh đưa đến nội chiến, bạo loạn, bất ổn lại sanh ra nghèo đói.

Martine Bokassa và Baxí xem như định mệnh đã an bày. Cuộc đời không biết được đâu là họa hay phúc, may hay rủi. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, mà xem con tạo xoay vần đến đâu”

Trúc Giang 
Minnesota ngày 15-7-2014


Lên tiếng thay cho một người không còn cơ hội lên tiếng: Bà Ngô Đình Nhu

 len tieng

Bà Trần Lệ Xuân

Bà Ngô Đình Nhu qua đời ngày 24-4-2011, tại Rome. Thế là kể như cả một thế hệ những người lãnh đạo miền Nam thời tuổi trẻ của tôi đã không còn nữa. Tính đến nay cái chết của bà thấm thoắt đã được hơn ba năm!!

Hôm nay, một lần nữa, xin lên tiếng như một tưởng niệm và nói thay cho một người đã làm thinh. Tôi là người ngay từ lúc 9, 10 tuổi đã đem lòng ái mộ ông Ngô Đình Nhu, phu quân của bà lúc ông còn hoạt động ở Bắc vào những năm 1950-1952. Tôi đã giáp mặt ông một số lần trong bộ đồ bốn túi với nụ cười nhếch mép. Anh cả tôi lúc bấy giờ cũng theo học những lớp về Xã Hội do ông tổ chức và giảng dạy. Làm sao tôi không quý mến ông được.

Sau này, thời thế thay đổi tôi và ông đều chọn ở miền Nam làm quê hương. Giã từ đất Bắc. Giã từ cộng sản. Ông là biểu tượng cho miền Nam chống lại ý thức hệ cộng sản. Tôi theo gót chân ông và tiếp tục con đường ông đã đi..

Vào miền Nam, tôi ngây thơ tưởng thế là tạm yên. Đất nước miền Nam đang đứng lên, đang xây dựng với niềm tin và hy vọng. Tôi lo học hành, lo chơi. Không ngờ, cộng sản lại lén lút đeo đuổi phá hoại xóm làng miền Nam chúng tôi một lần nữa.

Họ lại muốn giải phóng chúng tôi.

Lần này thì ông đóng vai một lãnh tụ giấu mặt. Chưa bao giờ thấy ông dùng công xa, có xe còi hụ chạy ngoài đường phố. Dân chùng nhiều người chưa biết mặt ông. Phải chăng đó là cái dở của ông. Nhưng lại một lần nữa, tôi lại có một số dịp gặp ông tham dự các buổi lể của Viện Đại học Đà Lạt trong vai trò cố vấn, còn tôi- với tư cách sinh viên viện đại học-. Đã đôi lần, tôi tính bạo dạn lên gặp ông để hỏi chuyện. Nhưng lần nào cũng vậy, buổi lễ gần xong là ông đã biến đi đằng nào rất nhanh. Chắc tính ông kín đáo, không thích gặp gỡ, nói chuyện la cà xã giao. Ông đến và đi kín đáo.

Nhưng tôi còn nhớ như in là ông thường đi một mình, không có bà Nhu bên cạnh. Việc công, việc tư, ông phân biệt rõ ràng. Chắc hẳn bà Nhu lúc ấy đang ngồi ở ngôi biệt thự ở Đà Lạt chơi với các con của bà. Mà nay thì tôi mới hiểu tại sao ông làm như vậy..Ông không thích đàn bà dính dáng vào chuyện chính trị của ông. Và nỗi khỗ của ông và bà cũng từ chỗ này, gây ra những tranh cãi, buồn phiền. Ông đi biền biệt, không biết đi đâu, gặp những ai, làm gì!! Phần bà thì muốn dính dáng vào nhiều truyện, cả truyện tư đến truyện đời công, truyện chính trị, chính em!! Bà sốc nổi, ông bình tĩnh. Bà thông minh, ông thâm trầm. Bà thích xuất hiện trước đám đông, ông tránh mặt. Thực sự nếu bà hiểu được bà đang nắm được một ưu vật hiếm có trong tay thì hai người hạnh phúc biết bao.

Đến khi tôi bắt đầu cầm bút thì ông đã không còn nữa. Bao nhiêu biến cố đau thương xã hội, chính trị bầy ra mỗi ngày, miền Nam như con tàu trôi nổi, không định hướng. Chỉ càng về sau này, từ người trí thức đến người lãnh đạo đến người dân thường mới thấm thía được sự mất mát ấy!!

Muộn quá rồi. Thua vào tay cộng sản.

Những người đàn anh của tôi như giáo sư Tôn Thất Thiện nói: Cả trăm năm nữa, chúng ta cũng không có được người như ông Diệm. Rồi những người như anh Huỳnh Văn Lang, anh Lê Châu Lộc từng sát cánh với anh em nhà ông cũng nói một tuồng như vậy.

Tôi phải tin như thế thôi. Không có anh ông và không có ông, miền Nam như mất hướng. Người Mỹ đến VN để giúp chúng tôi chống lại cộng sản, nhưng trước tiên họ tìm cách giết những người bạn của họ..

Phần tôi, chót trân trọng ông, tôi không thể nghĩ khác được. Tôi càng thấy khâm phục ông hơn về sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về chính trị, nhất là khi đọc Chính Đề của ông. Lòng quý mến ấy của tôi càng tăng khi ông và cụ Diệm bị bọn tướng lãnh thảm sát. Tôi tôn quý ông lúc sống và tiếc thương ông lúc chết! Ai nói khác thì mặc kệ họ.

Cái thất bại của gia đình họ Ngô là cụ Diệm không phải là người làm chính trị. Cụ có thể đã đi tu ngay từ cái ngày cụ tạm thời trú ngụ ở một dòng tu bên Bỉ. Còn ông Nhu, có lúc tâm sự trong vụ Phật giáo, ông cho rằng đáng nhẽ ông phải là một giáo sư sử học, ngồi nghiên cứu thay vì làm chính trị.!! Phải chăng cả hai ông đã chọn lầm nghề!!

Bản thân ông là người ít bạn mà nhiều kẻ thù. Kẻ thù ngay trong số những người từng tin cẩn và hợp tác như trường hợp những Trần Kim Tuyến, Nguyễn Đình Thuần, Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính. Và nhất là người Mỹ. Cái chết của anh em ông là do người Mỹ dàn dựng gây ra chứ không ai khác!! Và ngay khi sang Mỹ ‘giải độc”, bà Ngô Đình Nhu, dù không có đảm lược chính trị, nhưng lại có cái bản năng nhạy bén chính trị đã tuyên bố thẳng thừng:

Whoever has the Americans as allies does not need any ennemies’.

Và câu nói sau đây chẳng khác gì một lời tiên đoán số phận miền Nam sau khi chế độ Đệ nhất cộng hòa không còn nữa:

I can predict to you all that the story in Viet Nam is only at its beginning’.

Phần tôi lại có thêm cái may mắn là hoặc được đọc, được rèn đúc thêm hoặc là được gặp một số nhân chứng của thời Đệ Nhất Cộng Hòa như quý ông Tôn Thất Thiện, Cao Xuân Vỹ, trung tá Nguyễn văn Minh, thượng nghị sĩ Lê Châu Lộc, ông trung tướng Tôn Thất Đính, đại tá Nguyễn Hữu Duệ, ông Huỳnh Văn Lang, Minh Võ và nhiều người khác. Hoặc là được hiểu biết nhiều hơn về chế độ với Nhị Lang, Lansdale, cụ Quách Tòng Đức, cụ Đoàn Thêm, luật sư Lâm Lễ Trinhvv..

Không lẽ tất cả những người đã một thời góp bàn tay xây dựng nên một miền Nam một thời đều nghĩ sai, viết sai cả sao?

Về phía người Mỹ thì phải nói ngược lại. Phải nhìn nhận có những người như Haberstam và Browne, họ đã đi tìm vinh quang nghề nghiệp trên những xác chết của hai vị lãnh đạo Đệ nhất cộng hòa và xác chết của những người lính VNCH.

Cả hai đều nhận được giải thưởng Pulitzer vào năm 1964, sau khi hai anh em ông Diệm đã chết.

Tôi không nói oan cho những kẻ cầm bút giết người trên. Hãy để một người đồng nghiệp thuộc loại sáng giá nhất sau này-Stanley Karnow- nhận xét về đám ký giả này:

Cái thảm kịch của Việt Nam lúc bấy giờ lại trở thành giấc mơ của một số ký giả, nhưng lại là một cơn ác mộng đối với các viên chức chính phủ Mỹ vì họ lo sợ rằng những biến cố ở Việt Nam sẽ khiến dư luận Mỹ chống lại những nỗ lực chiến tranh ở Việt Nam. Kiểm duyệt thì không được mà không kiểm duyệt thì thật khó kiểm soát những phóng viên trẻ năng động như David Haberstam của tờ The New york Times. Neil Sheehan của United Press International và Malcom Browne của Associated Press.. Những phóng viên trẻ này đưa ra tràn ngập những tin tức thật cũng có mà giả cũng không thiếu được cung cấp bởi những kẻ thù của chế độ’.

Một ký giả uy tín và lão thành ở thời kỳ ấy là Joseph Alsop đã thẳng thừng kết án các đồng nghiệp trẻ của ông là đang tiến hành một chiến dịch tuyên truyền tồi tệ chống lại ông Diệm và ông so sánh đám ký giả này giống thời kỳ họ từng chống lại tướng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc trước khi sụp đổ rơi vào tay Trung Cộng.

Về cuốn Finding the Dragon Lady của bà Monique Brinson Demery

Cuốn sách trên được xuất bản năm 2013, nghĩa là sau hai năm khi bà Ngô Đình Nhu qua đời. Đây là công trình làm việc tốn khá nhiều công sức và năm tháng. Tác giả, giống như nhiều người Mỹ khi làm công tác nghiên cứu đã chuẩn bị học tiếng Việt đến nơi đến chốn. Demery học với Ngô Như Bình ở đại học Harvard. Demery cũng đã được sự chỉ dẫn của Edward Miller- một giáo sư, một nhà sử học Mỹ có những cái nhìn sử học khách quan và chính xác hơn các nhà sử học thế hệ đàn anh của tôi. Tôi rất trân trọng những ý kiến mới mẻ của Ed.Miller.

Và ít lắm là trong vòng năm trời tác giả Demery đã liên lạc, trao đổi và theo đuổi bà Nhu!! Bà Nhu vốn tránh mọi tiếp xúc, phỏng cấn- trừ một hai trường hợp cho Stanley Karnow cho chương trình đài truyền hình. Phải nhìn nhận cái kiên trì và phương pháp làm nghiên cứu của người Mỹ qua tác giả trẻ- bà Demery-.

Vì thế, khi cuốn sách vừa mới ra thì tôi đã cất công tìm đọc ngay và cũng cảm thấy thất vọng sau khi đọc xong. Cái thất vọng của tôi có thể người đọc khác có thể không thấy. Nếu đi tìm hiểu một tác giả chỉ cốt thu nhặt sự kiện, các chứng từ, các nhân chứng, vật chứng, cùng lắm ta có được một nhân dạng. Điều chính yếu là phải vào được bên trong tác giả, chia sẻ với con người trong một hoàn cảnh. Về điều nay, chưa thật sự có một giao cảm, một tin tưởng nào giữa bà Nhu và Demery. Theo như tôi hiểu thì bà Nhu vẫn e ngại người ký giả trẻ tuổi này.

· Cái thất vọng thứ nhất khi đọc Demery là tác giả chịu nhiều ảnh hưởng của Haberstam và Malcom Browne trong cách trình bày các sự kiện lịch sử miền Nam một cách thiên lệch. Khi còn sinh viên, bà đã có dịp đọc những lời nhận xét hận oán cùng cực của Malcon Browne như sau:

Theo kinh nghiệm riêng của tôi thì bà Nhu là một kẻ thù nguy hiểm nhất cho bất cứ người đàn ông nào’. . Tại sao Malcon Browne lại có một nhận xét cay nghiệt như thế thì không biết được. Nhưng phần cá nhân Browne thì lại được phía tranh đấu Phật giáo tín cẩn vào loại số một. Ông là người được thông báo ngày giờ, địa điểm tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức và bức hình của M. Browne được gửi đi khắp thế giới vào từng mỗi gia đình Mỹ trong buổi sáng hôm sau!!

Và chính từ sự gợi hứng từ M. Browne mà Demery đi tìm lại bà Nhu. Một bà Nhu không phải một góa phụ sống lẻ loi đơn độc một mình ở Paris. Mà một bà Nhu thuở vang bóng một thời với một nhãn hiệu đi kèm: Dragon Lady- một phụ nữ tinh quái, gian ác, ngổ ngáo, xấc xược. Tệ hơn nữa, không phải đệ nhất phu nhân mà một con khốn chết tiệt!!

Nếu chỉ đi tìm một bà Nhu như thế thì chỉ cần dở mấy sách vỡ cũ ra là có đủ! Cần gì mất năm năm tra hỏi. Và nếu muốn tham khảo thêm tiếng Việt thì nên tìm đọc cuốn Đệ Nhất Phu nhân của tên đạo văn là Hoàng Trọng Miên..

Tôi tự hỏi văn hóa Mỹ, người Mỹ viết tham khảo có dùng những từ thóa mạ như thế với những mệnh phụ phu nhân như Bà Kennedy không?

· Cái thất vọng thứ hai là phần lớn các sự kiện đều đã được nhiều tác giả, nhiều người nói tới và không đem lại điều chi mới lạ. Người nào bảo mới là vì chưa đọc cho đủ tài liệu. Như trường hợp bà Nhu tổ chức với Giám mục Lê Hữu Từ đem một số dân di cư đi biểu tình ủng hộ ông Diệm lúc ban đầu, người ta đã nói tới rồi. Việc bà Nhu can thiệp vào vụ đảo chánh 1960, người ta cũng nhắc tới rồi..Tướng Khánh là người trong cuộc cũng đả kể lại đầy đủ với luật sư Lâm Lễ Trinh.

· Những chi tiết về đời sống của bà Nhu lúc còn trẻ, lúc lập gia đình, lúc ở Đàlạt, lúc ở trong Dinh Độc Lập đều vụn vặt, chắp nối và nhiều chi tiết không cần phải nói ra..Những chi tiết về gia đình ông bà Chương-bố mẹ ruột bà Nhu- một thứ cai thầu chính trị- một thứ gió chiều nào ngả theo chiều đó- trong nhà lúc đón tiếp những nhân vật lãnh đạo Nhật, lúc đón chính khách Pháp, lúc tiếp đón Bảo Đại- ra vào tấp nập, tai tiếng lắm, đủ thứ chuyện…cũng là chuyện không cần phải đợi đến tài liệu mật thám Pháp khui ra. Bảo Đại trong hồi ký của ông cũng gián tiếp nhắc đến những liên hệ của ông với bà Nam Trân!! Nhưng đó phải chăng cũng là những điều quan yếu đối với bà Nhu!!

· Cái điều duy nhất mà người đọc có thể thu lượm được khi đọc cuốn sách là một vài tâm sự của bà Nhu đối với ông Nhu..Bà tỏ ra buồn phiền, bực bội, chán nản, cô đơn vì có cảm tưởng ông Nhu không quan tâm gì đến bà. Chỉ lo chuyện chính trị..Và cũng từ chỗ đó bà muốn nhảy ra hoạt động chính trị, xã hội- một điều cả ông Nhu, ông Diệm và nhất là ông Cẩn rất khó chịu.. Tìm cho ra địa chỉ chỗ ở của bà Nhu tại một building trên đường Charles Floquet, số 24. Cuối cùng tác giã đã gửi thư, đã có thể liên lạc điện thoại với bà Nhu. Bước đầu đã đạt được.-

· Cuốn sách của bà Monique Brison Demery chủ yếu ghi lại những phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu qua điện thoại. Phải công nhận sự kiên nhẫn trì chí của tác giả trong khoảng thời gian năm năm trời- và tìm đủ mọi cách để khai thác cá nhân và cuộc đời bà Ngô Đình Nhu. Ngay cả nếu cần, mang cả con nhỏ sang Paris để được sự chú ý của bà Nhu. Nhưng kết quả cho đến phút chót là một thất bại, vì bà Nhu đã nghi ngại và hai lần thất hẹn không cho gặp như đã hứa!!

· Cái được còn lại là một tập sách nhỏ nhan đề Những viên sỏi trắng. Đây không phải là thứ hồi ký cũng không phải nhật ký. Nó là một thứ suy niệm ( Méditations) đượm tính chất huyền bí ( Mystique) dựa vào thánh kinh. Nó không dễ dàng gì để hiểu nếu không nắm được cái chìa khóa mở nó. Nhưng nó lại là bản tóm lược toàn diện hành trình đời sống tâm linh của bà Nhu kể từ năm 1963-2011. Gần 50 năm trời!! Gần 50 năm trời sống ẩn dật, khép kín, sống đúng phẩm cách con người, sống đúng mẫu mực của một phụ nữ góa bụa hầu như không tỳ vết. 50 năm đó tự nó xóa tẩy mọi vết nhơ, vết bôi nhọ trên phẩm giá một người phụ nữ. Mà ngay những kẻ thâm độc nhất và có thừa khả năng dựng truyện cũng đành im tiếng!

· Rất tiếc, phần đời ấy lại chỉ được tác giả viết thoáng qua trong vài trang, chương 16: In Exile. Và cũng chả có thể nào trách được tác giả, vì khả năng của bà không đủ để có thể theo dõi những chặng đường tâm linh với nhiều lối nói trình bày mang tính ẩn dụ. Và cũng vì mục đích chính của tác giả là khai thác, đi tìm con người ác phụ trong bà Nhu!! Muốn thỏa trí tò mò, có lẽ bà Demery nên xoay hướng tìm hiểu những nhân vật nước Mỹ như dòng họ anh em nhà Kennedy, bà cựu tổng thống Kennedy cũng như bà Joan Kennedy..Như mới đây, tôi đi qua một tiệm sách thấy một tạp chí có nhan đề rất gợi tò mò: Anh em nhà Kennedy, ai giết Marilyn Monroe?

· Những điều mà bà Déméry mong đợi thu thập được như cuộc đời riêng của bà Nhu, những truyện thâm cung bí sử, những chuyện liên quan đến tình ái nếu có, những dính dáng của bà với sinh hoạt chính trị miền Nam, hay những hiểu biết của bà qua ông Ngô Đình Nhu về các nhân vật liên quan đến chế độ, những thành bại của chế độvv. Kết quả thu thập thật ít ỏi. Trong nhật ký riêng của bà Nhu viết năm 1959, bà bầy tỏ một cách tuyệt vọng về cuộc sống hôn nhân của bà. Về sự thờ ơ của ông Nhu, về thú đi săn, về sự cách biệt tuổi tác khiến ông không thể làm gì hơn những gì ông đã làm!! Nói chung, bà khát vọng những chiều chuộng, những lời nói vuốt ve tuổi trẻ của bà, những giây phút lãng mạn… Và rồi những ước vọng thầm kín của một người đàn bà ở tuổi 32.. Bà nói một cách mơ hồ, thóang qua hình ảnh một người tên H. Hắn là một thứ Don Juan và chỉ có thế, không cho biết bất cứ chi tiết cụ thể nào về mối liên lạc đó. Nó như một cơn gió thoảng qua rồi thôi. Biên giới của cái được, cái cho phép và cái cấm kỵ trong tình huống lúc bấy giờ cho đến ngày hôm nay có thể cũng không có điều chi cho phép một sự ngờ vực.. Gần 50 sống cuộc đời cô thế vẫn như tảng đá ngầm, không gì lay chuyển được. Sự lựa chọn trong cuộc đời đôi khi không dễ dàng gì!! Không, người ta không thể nào biết hơn được những điều mà người ta đã biết như thế.

· Tôi còn dám nói như một kết luận là chính bà Nhu cũng không hiểu ông Nhu cho đủ. Theo cụ Cao Xuân Vỹ – người thân cận với ông Nhu kể cho tôi nghe- Ông Nhu là người say mê chính trị nên mọi chuyện khác ông coi thường. Ông ăn mặc giản dị đến xuềnh xoàng. Ngay khi đã vào ở trong dinh, ông vẫn áo sơ mi bỏ ra ngoài, đi dép lệt xệt. Trong khi những chức sắc khác vào dinh thì quần áo chỉnh tề, lon chậu, mũ áo đầy đủ. Ông vượt lên trên cái thường tình của mọi người. Trong phòng làm việc, bày biện sơ sài, sách vở, tài liệu vất tung tóe trên sàn nhà, trên giường ngủ lộn xộn. Đó là thế giới của riêng ông. Ông không muốn bà dòm ngó vào, cũng không cần ai thu xếp dọn dẹp. Ông chỉ có thú say mê đọc sách và đi săn hổ. Khi không hiểu, khi không tôn trọng thế giới của người đàn ông- một người trí thức thượng thặng- một chính trị gia già dặn, sắc sảo- thì khó đủ nghĩa làm vợ một người đàn ông như thế!! Khi muốn kéo thấp người đàn ông xuống đến những chi tiết nhỏ, câu chuyện thường ngày là một cách gián tiếp xâm phạm đến những cuộc sống tinh thần của người ấy. Cho nên, thật khó cho cả hai người vì đôi khi không cùng nhìn về một hướng. Ý nghĩa câu nói của St. Exupéry về tình yêu lứa độ trong trường hợp này thật là cần thiết.

· Trong một dịp, nếu tôi nhớ không lầm do cụ Đoàn Thêm kể lại, ông phải đại diện chính phủ sang Pháp, lúc bấy giờ người ta mới cuống lên, phải đặt may gấp cho ông một bộ vét cho trang trọng xứng đáng đại diện chính phủ một nước. Lại còn vấn đề chức vụ? Ông chẳng có chức vụ gì cả, cũng chẳng nằm trong quy chế lương bổng. Rồi mọi người đồng ý đặt cho ông chức cố vấn…Từ đó, chữ cố vấn được chính thức dùng. Ông không có lương bổng, tiền là do quỹ đen của ông Diệm cho ông. Một chi tiết nhỏ là khi bà Nhu và con gái đi dự hội nghị và sang Mỹ, trong túi họ chỉ có 5000 Mỹ kim và khi bên nhà đảo chính ông Diệm, bà Nhu không có tiền trả cho khách sạn!! Họ được một số bạn bè Mỹ ứng cho mà vẫn thiếu hụt.

· Trong 9 năm cầm quyền thời ông Diệm, có người dân đô thành nào thấy ông Ngô Đình Nhu ngồi trên xe Limousine, có còi hụ, có xe cảnh sát dẫn đường không? Phần tôi chưa bao giờ nhìn thấy cả. Nhưng chỉ ít lâu sau 1963, Phó Thủ tướng Văn Hóa Đỗ Mậu, tướng Tôn Thất Đính đi đâu là kéo theo cả một đoàn tùy tùng, rầm rộ, còi hụ, dẹp đường, dẹp xá. Điều đó cho thấy phong cách của hai loại người!!

· Để chứng minh cho thấy- dù trong cảnh vực nào-, người phụ nữ vẫn chỉ là người phụ nữ trong gia đình. Trong một lần duy nhất, bà Nhu bắt gặp ông Nhu cùng 8 người đàn ông khác, đang ngồi quây quần và ở giữa có một người bị tra hỏi và bị đánh có máu me trên mặt. Tất cả những người có mặt hôm đó, ngay cả kẻ bị đánh làm như thể không có chuyện gì xảy ra khi bà Nhu vào. Khi ông Nhu về phong ngủ của hai vợ chồng, bà đã tò mò muốn biết chuyện gì xảy ra, người bị đánh là ai. Ông Nhu vốn bản tính kín đáo không trả lời. Bản thân bà Nhu bị chính ông Ngô Đình Nhu ngăn cản, cách ly bà ra khỏi những sinh hoạt chính trị. Sinh hoạt của bà mỗi ngay là giặt giũ quần áo, nấu ăn và tắm rửa cho con cái. Sau này, một vài hoạt động nổi của bà- như Hội Phụ nữ Liên Đới- chỉ là thứ chính trị trình diễn hơn là thực tiễn. Một người đàn bà như thế có thể nào biết được tất cả những sinh hoạt chính trị miền Nam?

Hơn nữa, hoạt động chính trị của ông Nhu không có tính cách bàn giấy để giải quyết các công văn giấy tờ mà phần lớn là những hoạt động về những chính sách, những quyết định, những họp mặt bí mật, những âm mưu tính toán..

· Bà Nhu hoàn toàn đứng ngoài lề các hoạt động chính trị của ông Nhu. Bà càng hăng hái xuất hiện, càng bất lợi cho chế độ và càng bất lợi cho bà như lời nhận xét của cụ Đoàn Thêm như sau đây:

· Dù không làm hay chưa làm việc gì có hại, người đàn bà không thể thừa thế nhà chồng mà xen vào việc chính quyền.

· Sự ra mặt của bà, dưới mắt số đông, trái ngược hẳn với hình ảnh cố hữu của phụ nữ Á Đông khiêm nhượng, ý nhị hiền hậu, của người mẹ, người vợ Việt Nam.

· Nguyên do sâu xa nhất và đích thật nhất của nỗi ác cảm với bà là do người đã đẹp mà lại muốn khỏe và hách nữa thì quá lắm, không chịu nổi. Đối với ông Nhu, người ta còn nhẫn nhịn, nhưng đối với bà thì ngay cả sự xuất đầu lộ diện cũng không được tán thành hay dung thứ.

· Nên dù trái hay phải, người đàn bà Việt Nam muốn vội sống theo theo đàn bà tiền phong(Avant garde) Âu Mỹ, tất chưa thể được yên thân trên một đất nước mà nhiều người còn ghê sợ những Võ Hậu, những Từ Hy.

· Tâm lý số đông như vậy nên nhiều con mắt dễ nhìn thấy những sơ hở và lỗi lầm để buộc lỗi gay go. Mỗi lời nói việc làm của bà đều là những cớ, những dịp cho cho dư luận chỉ trích nghiêm ngặt..

Bi kịch của chế độ bắt đầu từ chỗ đó!!!

Phần tác giả Demery, viết về bà Nhu mà như thiếu tư liệu để viết!! Viết cái gì? Viết con người bà hay viết về chế độ..Cuối cùng viết về con người bà thì ít mà viết chung về chế độ mà nhiều phần bà như thể đứng ngoài cuộc. Để bù lấp những khoảng trống ấy về các bí mật chính trị, tác giả bắt buộc phải trích dẫn những phần tài liệu từ nhiều nguồn mà phần lớn người đọc có thể đã biết rồi. Và sự sắp xếp cuốn sách không khỏi có những vá víu dựa vào những nhận xét của người khác. Câu hỏi chính còn lại đặt ra là tác giả có tỏ ra mức độ khách quan với một tấm lòng không khi đi tìm một bà Ngô Đình Nhu? Cứ như tôi hiểu, bà Demery đi tìm một bà Ngô Đình Nhu- như một Dragon Lady? Hiểu như thế, tôi cho là việc tìm kiếm coi như uổng công.

· Ngay nhan đề cuốn sách đã không ổn khi gọi bà Nhu là: Dragon Lady. Nhan đề này cũng từng được gán cho bà Tưởng Giới Thạch 20 năm về trước. Có một sự trùng hợp ý nghĩa gì chăng? Hình bìa lại chọn bức hình bà Nhu đang nhắm mắt tập bắn trong một buổi chủ tọa Thanh nữ cộng hòa với nền mầu đỏ chói chang.Trông quả thực không phản ánh đúng con người bà Ngô Đình Nhu. Mầu bìa như bị hoen ố chung quanh một cách cố ý và vụng về. Khá khen cho người nào đó đã vẽ mẫu bìa này.

· Và trong những lời trích dẫn ở trang trong tờ bìa. Người ta cố tình gán cho bà Nhu cái trách nhiệm không nhỏ là làm sụp đổ nền đệ nhất cộng hòa. Có nghĩa là bỏ quên đi tất cả vai trò và trách nhiệm của người Mỹ trong việc lật đổ này.

· Và trước khi vào chương một, tác giả không quên trích dẫn một câu thơ của William Watson do thượng nghĩ sĩ Stephen Young, tiểu bang Ohio trong đó có câu chót: The woman with the serpent’s tongue.( Người dàn bà với cái lưỡi của con rắn).
· Trong các trích dẫn các tác giả đầy rẫy những lời nhận xét bất xứng, gọi bà Nhu là con nọ, con kia.Những nhà báo như Halberstam, Browne, Stanley Karnov thì ít nhiều coi bà Nhu như một thứ kẻ thù. Tôi tự hỏi, không biết họ có dám viết như thế về những nhân vật như bà Kennedy hay không?

· Phần cuối đời của bà Nhu, chương 16 vỏn vẹn được vài trang, từ trang 213-225. Điều đó cho thấy một sự bất cân xứng khi tìm hiểu cuộc đời bà Nhu!!!Đối với kẻ viết bài này, bà Nhu đã chết và đem theo bà tất cả những gì bí nhiệm của cuộc đời đầy sóng gió và khổ lụy của bà..Tôi không biết còn ai khổ hơn bà Nhu cả lúc sống và lúc chết? Nghĩ tới bà, tôi nghĩ tới hoàn cảnh bà Nam Phương Hoàng Hậu. Đó là số phận dành cho những người dàn bà mà đáng nhẽ họ có thể có một cuộc sống mà bất cứ người phụ nữ nào cũng ao ước đạt được!!

Và việc đi tìm bà Nhu trong cuốn sách cuối cùng ta bắp gặp một Bà Nhu- một người đàn bà bình thường như hằng trăm người khác. Họa chăng bà có một số nổi niềm riêng. Bà cảm thấy buồn bực, bị quẫn trí vì người chồng lo chuyện thế sự, quanh năm vắng nhà bất tử..Và một cảnh đời như thế có chi xa lạ với những hoàn cảnh những người phụ nữ có chồng làm chính trị?

Nhưng cũng có thể vì thế mà bà bị rơi vào tình trạng trầm uất.

Ra ngoại quốc như một kẻ lưu vong- .Biết bao nhiêu nỗi cay đắng, cô đơn và tủi nhục! Một hoàn cảnh chẳng khác xa mấy với hoàn cảnh hoàng hậu Nam Phương lúc bỏ Đà Lạt sang Pháp vào năm 1950!!

Những người đi tìm hiểu bà lại thường thiếu một tấm lòng, một sự chia sẻ. Nói như bà Clinton trong cuốn sách mới xuất bản: Hard choices. Có nhiều chọn lựa thật khó và dù chọn lựa nào thì cũng phải có một cái đấu và một con tim. Họ đến với bà như một kẻ đi truy tầm quá khứ mà thiếu một sự trân trọng!!

Cuốn sách của tác giả Demery vì thế thiếu hẳn một sự chia xẻ về thân phận một người phụ nữ trong những hoàn cảnh cực đoan nhất, đầy đọa nhất như mất chồng, mất con, mất sự nghiệp, mất tương lai, mất mọi nguồn hy vọng, mất tin tưởng vào tình đời, tình con người..

Và trong những trường hợp như thế, từ chỗ tối tăm của vực sâu của tuyệt vọng dọi sáng lên một nguồn hy vọng một niềm tin tôn giáo. Và vì thế ta mới hiểu được tải sao bà viết về Những viên sỏi trắng. Những viên sỏi trắng đã vực bà dậy để bà đi hết con đường nhân thế.

Có lẽ, theo tôi, điều quan trọng nhất không hẳn là đào xới quá khứ đi tìm những mảnh vụn đời sống mà biết tôn trọng cuộc sống riêng, cô độc, khép kín của bà.

Cho nên, tôi có cảm tưởng tác giả Demery đã không hiểu gì về con người thực của bà Nhu, nhất là phần cuộc đời còn lại từ năm 1963 cho đến khi bà mất vào 24 tháng tư, 2011ở Rome.. Cũng giống như hoàng hậu Nam Phương, bà đem theo sang bên kia thế giới một nỗi niềm riêng mà không thể chia sẻ cùng ai được!!

Những năm tháng sau 1963, chính là phần đời sống giúp bà nhận diện ra chính mình, nhận ra hướng đi của cuộc đời còn lại của bà.

Không hiểu được phần đời này của bà, không nắm bắt được con người thực của bà.

Bà tìm một lối gỉai thoát trong cuộc sống thông qua những suy niệm tôn giáo.. Và bà đã viết ra những kinh nghiệm suy tư này dưới cái tên Những viên sỏi trắng.

Và đã hẳn, vì người ta đã không bắt gặp được một bà Nhu ăn nói bạo miệng, với những lời tuyên bố bốc lửa!! Họ thất vọng. Họ cũng sẽ thất vọng khi họ tìm đọc cuốn La République du Viet Nam et les Ngô Đình suivi des mémoires posthumes de madame Ngô Đình Nhu do con trai Ngô Đình Quỳnh và con gái bà in sau khi bà qua đời.

Tôi cũng đã nhiều lần nói truyện với ông Trương Phú Thứ về cuốn sách do bà Nhu trao cho ông TPT để chuyển ngữ ra tiếng Việt và để xuất bản. Cũng theo ông TPT thì cuốn sách không có giá trị gì về lịch sử, về nội bộ chính trị VN trong giai đoạn ấy. Và nếu ai chờ đợi những điều như thế trong tập sách này thì hoàn toàn vô vọng..

Bằng chứng sách đã được in ra bằng tiếng Pháp, nhưng ít ai nhắc tới và giới thiệu hoặc phẩm bình. Bản thân tôi cũng điện thoại và gửi điện thư cho ông Ngô Đình Quỳnh, nhưng không được ông trả lời. Chắc ông nghi ngại nhiều thứ!!

Câu hỏi chính còn lại đặt ra là tác giả có tỏ ra mức độ khách quan với một tấm lòng không khi đi tìm một bà Ngô Đình Nhu? Cứ như tôi hiểu, bà Demery đi tìm một bà Ngô Đình Nhu- như một Dragon Lady? Hiểu như thế, tôi cho là việc tìm kiếm coi như uổng công.

Về cuốn nhật ký 1959-1963 của bà Nhu

Trong một bài viết đăng trên dvonline.net, nhan đề Đi tìm bà Nhu, gặp ông Đại úy. Tác giả Trần Giao Thủy tiết lộ bà Nhu có viết một cuốn nhật ký từ năm 1959-1963. Cuốn sách này hiện nay do đại úy James Văn Thạch có được. Trần Giao Thủy do liên lạc được với viên đại úy người Mỹ lai Việt Nam. Đại úy James là con của trung tá John W. Peterkin đã nghỉ hưu, một cựu sĩ quan Mỹ đã từng phục vụ trong chiến tranh Cao Ly và Việt Nam. Ông lấy một phụ nữ VN có tên là bà Thạch Thị Ngọc, một nữ lực sĩ trong môn nhảy cao.

Đại úy James sinh năm 1976, lớn lên ở Bellerose, Queens, Newyork và tốt nhgiệp cử nhân khoa sử tại St. John

Cũng theo tác giả Trần Giao Thủy, đại úy James đã liên lạc được với bà Demery và hai người đã gặp nhau tại một quán cà phê Starbuck và đã cho bà Demery đọc qua cuốn sách. Cuốn sách khổ 12cm-18cm đã úa cũ, gáy phải dán keo..Những trang trong viết bằng mực xanh, mực nâu, có khi mực đỏ. Nét chữ nghiêng và tuồng chữ giống hệt tuồng chữ trong những lá thư của bà Ngô Đình Nhu. Lại nữa, ký giả David Horwitz, đài NBC trong một chương trình phát hình ngày 28 tháng ba- 1964, người ta thấy được tấm bảng ghi rõ ” Sự thật về ngày 11 tháng/ 11-1960, tài liệu tối mật trích nhật ký của bà Ngô Đình Nhu nhủ danh Trần Lệ Xuân’.

Như thế, bằng vào những lời trình bày của Trần Giao Thủy, ngưới ta có thể đi tới kết luận, đây là một tài liệu thật, một nhật ký riêng của bà Ngô Đình Nhu viết trong khoảng 1959-1963. Có thể chúng ta khỏi mất thời giờ bàn cãi thêm nữa.

Vấn đề nên bàn cãi là nguồn gốc lai lịch cuốn nhật ký, do đâu mà đại úy John có được. Hiện viên đại úy này vẫn không cho biết rõ nguồn gốc của nó.

Được hỏi vì sao có được cuốn nhật ký này. Viên đại úy nói một cách không rõ ràng là do có bà con làm việc trong chính thể VNCH nên có được.

Trong câu trả lời Demery thì vắn tắt hơn: Tôi lớn lên, rồi tôi có cuốn sách đó. Một câu trả lời mà như không trả lời gì cả!! Và người ta có quyền suy luận rằng chắc là do viên trung tá Mỹ có một cơ duyên nào đó có được cuốn nhật ký đã giữ trong nhiều năm và nay trao lại cho con trai..

Câu hỏi là giữ như thế để làm gì? Trong khi tác giả cuốn nhật ký đó là bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong từ năm 1963.. Chỉ cần nhắc điện thoại- nhật ký của người ta thì trả cho người ta-đơn giản chỉ có thế và đem trao trả đến tận tay cuốn nhật ký.. Cử chỉ ấy đẹp biết mấy!!

Tôi cũng nhắc một trường hợp khác để chúng ta cùng suy nghĩ. Căn nhà trong Tân Sơn Nhất của ông bà Nguyễn Cao Kỳ do một viên đại tá chiếm ngụ.. Ông này thu thập một số hình ảnh riêng của bà Kỳ và thư từ của bà cất riêng một chỗ. Sau đó, ông đại tá phải sang đánh giặc bên Campuchia. Biết nguy hiểm, có thể chết, ông gói sấp hình ảnh tài liệu của bà Kỳ và dặn vợ con, khi nào có thể liên lạc được với gia đình ông Kỳ thì trao lại cho họ.

Khoảng 10 năm sau nối lại được liên lạc, Bà Kỳ hẹn về và đến nhận sấp hình ảnh tài liệu và thắp hương trước bài vị ông sĩ quan chung quanh có con cháu của ông ta..

Chính tôi được xem những tấm hình này..

Đấy là những tình tự con người vượt trên quá khứ, chiến tranh hận thù..

Cũng theo Trần Giao Thủy, chính bà Nhu cũng biết có cuộc triển lãm này và bà đã phản đối việc dùng tài liệu riêng tư của bà mà không có phép.

Người ta cũng không biết vào thời gian nào thì đại úy James có được cuốn nhật ký này tính từ 1965 trở đi. Chỉ biết rằng, theo lời ông tiết lộ, đã có một cơ sở báo chí muốn thương lượng để phát hành cuốn nhật ký này.

Nhưng chính gia đình bà Nhu, qua người con rể, ông Olindo Borsooi, chồng của bà Ngô Đình Lệ Quyên cũng ngỏ ý xin lại cuốn nhật ký đó và để lưu trữ như một khối di sản của dòng họ Ngô Đình.

Cả hai đề nghị trên đều bị ông Đại Úy từ chối vì không thích hợp với quan điểm và dự tính của người đang giữ cuốn nhật ký. Qua trao đổi với Trần Giao Thủy, ông này cho rằng viên đại úy là người rất say mê sử học, nhất là sử VN.. Cái say mê lấy của người làm của mình cho thấy tư cách người say mê này thế nào?

Qua tất cả những chặng đường gian nan, chòng chéo, vụ lợi, bất minh…vể cuốn nhật ký bị lưu lạc trong nhiều năm. Sự khám phá ra cuốn nhật ký vô tình biến nhà báo Trần Giao Thủy thành thứ người hùng, một thứ nhà báo chuyên ngiệp đã có công khám phá ra tài liệu bí mật, cất giữ từ hơn nửa thế kỷ nay.

Đấy là một kỳ công mấy ai đạt được!!

Tôi không biết rõ luật lệ ở Hoa Kỳ về quyền sở hữu tài sản trí tuệ xét sử như thế nào?

Nhưng cứ như theo cách sử sự bình thường theo công tâm mà nói, một cuốn nhật ký của một người phụ nữ đang còn sống nay không trao trả lại là một điều đáng trách!! Tư cách gì, ông đại úy cho rằng cuốn nhật ký của một người đàn bà có chồng làm chính trị, bị ám hại lại trở thành tài liệu mang tính lịch sử của Việt Nam, nó thuộc về toàn dân VN.

Những chữ lịch sử Việt Nam, thuộc toàn dân VN đều là những lời tuyên bố cao ngạo và trống rỗng. Và ông nói thêm: Nó là một tài liệu quan trọng cần phổ biến khắp nơi, cho tất cả những ai quan tâm đến giai đoạn đó trong lịch sử VN cận đại. Cuốn nhật ký không thể chỉ là hàng mẫu trưng bầy trong viện bảo tàng và nó cũng không thể bị cắt, chỉnh sửa để xuất bản.

Cần phổ biến khắp nơi mà ông lại giữ chịt không biết bao nhiêu năm rồi và đến bao giờ thì toàn dân VN sẽ được diễm phúc đọc một tài liệu được ông coi là vô giá?

Và mục đích chính của ông là giữ cuốn Nhật Ký ‘vô giá’, not for sale này, sau đó ông sẽ cho xuất bản và tiền bán sách, ông sẽ dùng để tu chỉnh nghĩa trang Bình An.

Xét về mặt pháp lý, về mặt ứng xử, về mặt đạo lý con người- mặc dầu ông cho rằng tập tài liệu thuộc toàn dân- Nhưng thực ra, từ đầu tới của, ông chỉ khăng khăng muốn giữ cho riêng mình và ông tự cho mình có quyền quyết định muốn in ấn và xử dụng số tiền lời tùy theo ý ông..

Bất kể đến quyền lợi tinh thần của gia đình bà Ngô Đình Nhu.. Con cái bà phải chăng có quyền bảo vệ thanh danh cho mẹ mình?

Nội dung cuốn sách là nhật ký cho nên có thể có nhiều nỗi niềm riêng tư của bà Nhu. Tôi cứ giả dụ rằng trong đó viết rất nhiều chuyện riêng tư đến đọc mà ngượng, hoặc đọc mà ứ nước mắt, hoặc đọc mà thỏa mãn thú tính đi nữa.. Nó vẫn chỉ riêng cho bà và chỉ riêng cho bà Nhu, mình bà biết, mình bà hay-. Nó là thành phần bản thân bà- nó là cõi riêng, nó là chính bà với những điều tối mật như chuyện chăn gối, chuyện hụt hẫng, chuyện trông chờ một cái gì xảy đến như cơn mưa mùa hạ, một sự lấp đầy chan hòa. Mà ngay cả người chồng của bà cũng không nên dòm ngó vào-. Có thể đó là những bất hòa, cãi cọ, giận hờn, nặng lời đến chửi bới nhau, chén vỡ bay tung tóe, cửa đóng đến sầm, vội vã bỏ đi săn biền biệt không về. Có những đêm mất ngũ, nước mắt chan hòa trên gối, nằm trăn trở một mình… Có thể là những ghen tuông, gọi tình địch là con đĩ, một thứ dơ dáy, một thứ súc vật-. Và cũng có thể là những suy nghĩ trái chiều như một thứ trả thù bằng cách khơi dậy, mơ đến những ham muốn nhất thời ngoài vòng. Và nay mai, nó sẽ đượ in ấn, phát hành hằng trăm ngàn ấn bản và được công khai hóa..cho bất cứ ai muốn đọc?

Phải chăng cái đó ta gọi là các sự kiện lịch sử, đến tình hình chính trị miền Nam?

Đây là một thái độ ngụy trí thức, giả đạo đức, giả nhân nghĩa mà thực sự chứa đựng một tâm địa nhỏ nhen.

Nghĩ đến thái độ và cách hành xử của ông đại úy James Văn Thạch làm tôi liên tưởng đến một vài trường hợp xin ghi ra sau đây.
Trường hợp cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Thượng sỹ Thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu cùng một người Mỹ tên Fred đang lo đốt những tài liệu bị loại bỏ thì Nguyễn Trung Hiếu yêu cầu đừng đốt một cuốn nhật ký.

Thế là cuốn nhật ký được Fred giữ lại. Mấy hôm sau, Hiếu tìm được phần hai của cuốn Nhật Ký. Cả hai cùng đọc và chia xẻ với người đã chết.

Và làm gì còn biên giới thù hận với người đã hy sinh, nằm xuống bên này, bên kia.

Năm 1972, Fred trở về Mỹ mang theo cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Fred trong nhiều năm trời tìm đủ mọi cách để có thể trao lại cuốn nhật ký cho gia đình Đặng Thùy Trâm.

Và cuối cùng thì Frederic Whitehurst cũng đạt được ý nguyện, trả cuốn nhật ký về tận tay gia đình mẹ của Đặng Thùy Trâm!!

Con người cao quý với tấm lòng rộng rãi bao la của Fred với một nghĩa cử cao đẹp tuyệt vời, anh đã giữ cuốn nhật ký 35 năm vốn được coi là kẻ thù địch và anh đã vượt khỏi cái ranh giới ấy để đến ngày 29-4-2005, anh chính thức viết thư cho em gái của Đăng Thùy Trâm là Đặng Kim Trâm xin gửi trả lại gia đình cuốn nhật ký ấy.

Câu chuyện của Rich

Câu chuyện thứ hai do nhà văn Uyên Thao viết lại về trường hợp một người lính Mỹ tên Rich đã bắn chết một cán binh cộng sản ngay trong tầm súng của anh ta. Và sau trận chiến, Rich đã rút được trong ví của người cán binh cộng sản một tấm hình nhỏ síu, ông ta chụp với một bé gái chừng 6 tuổi. Tấm hình ấy cứ ám ảnh Rich mãi về sau. Trong dịp ông đến viếng bức tường ghi tên 58 ngàn binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam, ông đã để lại tấm hình với lời ghi:

Thưa ông,
Suốt 22 năm nay, tôi giữ hình ông ở trong ví. Hôm ấy tôi mới 18 tuổi, khi chúng ta trông thấy nhau trên con đường mòn gần Chu Lai, Việt Nam. Xin tha thứ cho tôi đã giết ông. Đã nhiều lần trong những năm qua. Tôi nhìn hình ông và người con gái tôi đoán là con ông. Mỗi lần tim tôi bừng cháy với nỗi đau tội lỗi.
Xin ông tha thứ cho tôi.

Bức thư và tấm hình lại được một người Mỹ cựu chiến binh cũng có tấm lòng tên Duery Felton- một người quản lý phòng sưu tập tại đài kỷ niệm cất giữ. Thế là cả hai quyết đi gặp nhau và cùng gửi thư cho tòa đại sứ Hà Nội tại Hoa Thạnh Đốn.. Câu chuyện kết thúc một cảnh đẹp đến rơi nước mắt khi Rich tìm gặp lạii đứa con gái trong tấm hình.. Ông quyết định bay qua Việt Nam và đích thân đặt tấm hình vảo tay cô bé. |Nay đã trưởng thành và có gia đình.

Lúc này đã là mùa xuân năm 2000 và là năm thứ 33 kể từ khi Rich nhìn thấy tấm hình.

Cao đẹp biết là bao qua ba câu chuyện tôi vừa kể. Tự nó là lời biện minh để cho những ai còn tin tưởng rằng việc giữ tập hồi ký của bà Ngô Đình Nhu là điều chính đáng.

Có một sụ thật đơn giản được nhắc đi nhắc lại đến nhàm chán. Nhưng vẫn xin nhắc lại ở đây: Cái gì của Caesar, xin hãy trả lại cho Caesar.

© Đàn Chim Việt


Chuyện người lính trinh sát

Phạm Tín An Ninh

Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính.

Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.

Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát, đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ. Sau một ngày dưỡng quân, nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân dài hạn từ tuyến xuất phát Phú Long. Quốc Lộ số 1 là trục tiến quân chính. Tiểu Đoàn (-) mở rộng đội hình hai bên quốc lộ, một đại đội tùng thiết và Chi Đoàn Thiết Quân Vận vừa làm lực lượng xung kích, vừa làm lực lượng yểm trợ hỏa lực di động cho các cánh quân còn lại.

Ra đến làng Tùy Hòa thì đụng địch. Chúng tôi nhận lệnh khai triển đội hình. Chi Đoàn Thiết Quân Vận vượt lên đánh một trận thần tốc tiêu diệt một lực lượng địa phương của địch cố thủ ở làng Sara, các cánh quân còn lại nhanh chóng tiêu diệt mọi lực lượng địch trong vùng để tiến chiếm mục tiêu Núi Tà Dôm, một cao điểm trọng yếu, lập đài tiếp vận truyền tin, giao lại cho một đơn vị Địa Phương Quân trấn giữ trước khi tiếp tục lộ trình.

Lần đầu tiên bất ngờ đụng độ với một lực lương chủ lực quân hùng mạnh, địch quân – mà đa số là đám lính địa phương và du kích – bị đánh tan tác khắp nơi. Đơn vị chúng tôi dễ dàng làm chủ tình hình. Giao trách nhiệm cao điểm Tà Dôm cho Tiểu Khu Bình Thuận, chúng tôi nhận lệnh tiếp tục di chuyển thêm hơn năm cây số về hướng Bắc đến đóng quân tại xã Long Hoa, giữ an ninh cho một đơn vị công binh thiết lập căn cứ Nora trên một đỉnh đồi nằm gần Quốc Lộ, để trung đội Pháo Binh 105 ly di chuyển từ Phan Thiết đến căn cứ này trực tiếp yểm trợ cuộc hành quân.

Đại Đội tôi trách nhiệm đi đầu. Nhưng vừa xuống chân núi Tà Dôm, qua khỏi cầu Ông Tầm vài trăm thước, tôi nhận lệnh ông Tiểu Đoàn Trưởng dắt đại đội rẽ về bên phải chiếm lại một khu làng hiện do địch kiểm soát. Sau đó đóng quân tại đây để cơ quan Tỉnh thiết lập lại chính quyền. Khi cùng đoàn quân vượt lên để đến Long Hoa, ông Tiểu Đoàn Trưởng dặn dò tôi phải hết sức cẩn thận, vì mục tiêu nằm sát mật khu lớn của địch, số lượng du kích trong làng khá đông và hầu hết những gia đình ở đây đều có thân nhân theo VC.

Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho ba trung đội tiến vào khu làng bằng ba hướng khác nhau, tạo thành ba mũi giáp công. Dù chờ đợi, nhưng không hề có sự kháng cự nào. Tôi nghĩ đám du kích đã biết cuộc hành quân qui mô này, nên đã kịp chạy ra khỏi làng, nhưng nhất định chúng đang ẩn nấp đâu đó rình mò chờ những sơ hở của chúng tôi.

Khu làng nằm cách quốc lộ chừng 500 mét. Dọc theo con đường đất dẫn vào làng là một hàng me cao. Chỉ có chừng một trăm nóc gia, lưa thưa vài căn nhà ngói cổ, còn hầu hết là nhà tranh. Phía sau làng là một con suối khá lớn, bên kia là khu rừng tiếp giáp với mật khu Lê Hùng Phong của địch. Bất cứ ai cũng đoán được là đám du kích đang ẩn trốn trong khu rừng ấy, vì tương đối an toàn cho chúng, và nếu bị truy kích sẽ chạy thoát vào mật khu rộng lớn.

Tôi cho một trung đội khá nhất thường xuyên hoạt đông bên ấy, và chấm sẵn các điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh, để trường hợp có đụng độ, sẽ kịp thời yểm trợ, đề phòng lực lượng địa phương của địch có thể từ mật khu kéo ra tăng cường cho đám du kích.

Sau khi đi một vòng kiểm soát kỹ lưỡng, tôi chọn khu vườn của một ngôi nhà ngói cổ nằm giữa làng, có nhiều cây cối chung quanh, làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội. Cũng như nhiều nhà khác ở đây, trong nhà này cũng có một bàn thờ nghi ngút khói hương. Trên bàn thờ là tấm ảnh chân dung của một người đàn ông trẻ. Chủ nhà là một bà già khoảng 60, sống với một chị đàn bà trẻ là mẹ của một đứa con trai chừng 7, 8 tuổi. Hai mẹ con đều để tang trên ngực áo bằng một miếng vải trắng. Chúng tôi hỏi thì được bà già cho biết người con trai của bà là một nghĩa quân bị tử trận hơn 6 tháng. Bà đang sống với người con dâu trẻ góa bụa và thằng cháu nội đích tôn. Bà còn đưa cho tôi xem tờ khai gia đình của chính quyền cấp đã lâu. Đọc qua tôi thấy tên bà là Lê Thị Đúng và người con trai là Nguyễn Cho được gạch ngang và ghi chú với nét chữ vụng về: “Tử trận”.

Cả nhà rất tốt với chúng tôi. Ngày nào cũng mang củi về cho chúng tôi nấu cơm. Nước đổ đầy các chum đất cho chúng tôi dùng. Lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ. Tôi luôn nhắc nhở lính tráng phải cẩn thận, đặc biệt khi dùng nước uống, cảnh giác, theo dõi mọi hành động, nhưng phải đối xử tốt với họ, đừng lộ ra điều gì để họ biết là nghi ngờ họ. Thằng bé rất thích mấy anh lính. Một vài chú lính có con nhỏ nhưng lâu lắm chưa gặp, nên thấy thằng bé thật thà cũng thương. Được cho các hộp trái cây lương khô, có khi cả tiền nữa, nên thằng bé lúc nào cũng lân la bên các chú lính. Cứ mỗi lần thấy con mình gần gũi với lính, bà mẹ thường canh chừng, lâu lâu gọi thằng con ra xa dặn dò điều gì đó.

Một hôm ngồi xem anh lính lau chùi khẩu súng tiểu liên, thằng bé xin được mang thử và ra điều thích thú lắm. Rồi bất ngờ buột miệng:

– Ba cháu cũng có khẩu súng, nhưng dài quá, cháu mang không vừa và không đẹp bằng khẩu súng này của chú.

Nói vừa xong, thằng bé biết lỡ lời, nên vội đưa tay lên bụm miệng.

Được báo cáo, tôi bảo anh lính tiếp tục khai thác thằng bé. Và cuối cùng chúng tôi biết được cha nó là trưởng mũi công tác, chỉ huy hơn 30 tay du kích trong làng này. Cùng lúc tôi nhận được báo cáo của anh trung đội trưởng đóng ở bìa làng, cho biết là cứ mỗi buổi chiều, bà già chủ nhà tôi ở đi kiếm củi dọc mé suối, nhưng thỉnh thoảng hướng về phía bên kia rừng nói lớn: “Thằng Hai ơi! Cứ cho trâu ăn bên ấy, bên này hết cỏ rồi!”. Tôi gọi máy báo cáo cho ông Tiểu Đoàn Trưởng và đề nghị một kế hoạch “Điệu Hổ Ly Sơn”. Tôi được ông chấp thuận.

Trưa hôm sau, tôi tìm vị trí thật kín đáo cho một trung đội ngụy trang nằm mai phục bên bờ suối cùng lúc rút trung đội bên kia suối về làng, và cho lệnh đại đội di chuyển ra khỏi làng, bảo lính tráng nói lời cám ơn chia tay dân chúng, để lại biếu họ một số gạo vừa mới được tiếp tế.

Chúng tôi rời khỏi làng đi dọc theo Quốc Lộ tiến về hướng Nora và nhanh chóng ẩn trong bìa rừng bên khúc quanh của đường quốc lộ, trong tư thế sẵn sàng tiếp ứng. Đúng như dự đoán, khi trời sắp tối, nghe tiếng mìn Claymore và nhiều tiếng súng nổ trong làng, tôi được anh trung đội trưởng báo cáo đã tiêu diệt toàn bộ toán du kích, từ bên kia rừng lội suối về làng. Vì tưởng tất cả chúng tôi đã di chuyển đi nơi khác, nên đã lọt ổ phục kích. Tôi báo cáo cho Ông Tiểu Đoàn Trưởng và ra lệnh cho đại đội nhanh chóng quay trở lại làng, nhưng thay đổi các vị trí phòng thủ. Lần này tôi chọn một khu vườn bên bờ suối làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng, nhằm đối phó và yểm trợ kịp thời, nếu địch kéo từ mật khu ra phục hận.

Sáng hôm sau, một số cán bộ chính quyền đến nơi để xác nhận và giải quyết các tử thi. Anh cảnh sát cho tôi biết, trong số người chết có tên trưởng mũi công tác, con trai của bà Lê Thị Đúng, chủ nhà tôi đóng quân hôm trước.

Nghe mấy chú lính thám sát tình hình cho biết, ban đầu bà không nhận người ấy là con bà, nhưng không khí trong nhà buồn thảm lắm, nhất là chị vợ lúc nào cũng giấu nước mắt. Chỉ có thằng con trai thì vẫn cứ vô tư chơi đùa. Dường như không ai nói với nó điều gì đã xảy ra.

Buổi chiều, chính quyền thông báo nếu tử thi nào không có người nhận, họ sẽ chôn cất, nhưng vì không biết tên nên không thể làm bia. Lúc ấy bà chủ nhà mới chịu đứng ra nhận lãnh, và với sự giúp đỡ của chính quyền, bà và cô con dâu lo xong mai táng. Dù người chết là kẻ thù, nhưng trong hoàn cảnh này, nhất là vừa đóng quân trong vườn nhà họ hai hôm nay, chúng tôi ai cũng động lòng tội nghiệp cho người vợ trẻ và nhất là đứa con trai vừa mới mất cha. Chúng tôi góp được một ít tiền, cho một anh lính thân tình với thằng bé nhất, mang lại biếu họ. Tôi hình dung tới cái bàn thờ hôm trước, bây giờ đã trở thành bàn thờ thực sự.

Hai hôm sau, Đại Đội tôi được lệnh bàn giao làng lại cho chính quyền với một trung đội nghĩa quân mới tới. Cuộc hành quân tiếp diễn về hướng Bắc và chỉ hai ngày sau, chúng tôi đã đến Sông Lũy, bắt tay với Trại Biệt Kích Lương Sơn do một số sĩ quan LLĐB chỉ huy. Giai đoạn 1 của cuộc hành quân hoàn tất, cả Tiểu Đoàn được lệnh tập trung dưỡng quân tại Sông Mao. Bản doanh Sư Đoàn 5 BB của ông Vòng A Sáng bỏ lại, sau khi di chuyển toàn bộ vào Vùng 3 CT. Bây giờ doanh trại trở thành một trung tâm huấn luyện Địa Phương Quân.

Tôi đã từng tham dự nhiều cuộc hành quân, đơn vị tôi từng giết nhiều quân địch, nhưng cuộc hành quân lần này làm tôi khó quên, ngay cả cái tên của gả du kích Nguyễn Cho và bà mẹ Lê Thị Đúng, mà tôi đã đóng quân ngay trong vườn nhà bà vỏn vẹn chỉ bốn ngày.

***

Hơn bảy năm sau, chiến tranh đến thời kỳ ác liệt nhất. Ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Tiền Phương SĐ 22 BB bị Cộng quân tràn ngập tại Tân Cảnh, lần đầu tiên một vị Tư Lệnh Sư Đoàn khí phách và liêm sỉ chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, từ chối lên trực thăng thoát thân cùng với đám cố vấn Mỹ, đơn vị chúng tôi được không vận khẩn cấp lên Kontum, bây giờ là mục tiêu tiến chiếm của đại quân Cộng Sản đang tràn xuống từ hướng Bắc. Lúc này tôi đã được điều về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn. Đơn vị chúng tôi đã chiến thắng oanh liệt, giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt mùa hè đỏ lửa.

Chiến thắng ngày ấy dù có vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả một cái giá không nhỏ. Trong năm 1972 riêng đơn vị tôi đã có hơn 300 đồng đội hy sinh. Số tân binh từ các Trung Tâm Huấn Luyện không đủ bổ sung, nên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh đôn quân khẩn cấp. Đầu năm 1973, chúng tôi tiếp nhận một số khá đông những người lính Địa Phương Quân từ các Tiểu Khu chuyển tới. Đại Đội Trinh Sát là một đơn vị thiện chiến, lập được nhiều chiến công hiển hách, luôn được dùng làm lực lượng xung kích cho Chiến Đoàn, đảm nhận các công tác hiểm nguy và sẵn sàng tăng cường cho các điểm trọng yếu. Vì vậy đơn vị này cần được ưu tiên bổ sung một số lính trẻ, thiện chiến.

Chúng tôi đã từng hành quân chung với các đơn vị điạ phương quân Tiểu Khu Bình Thuận, và biết họ cũng được tôi luyện trong chiến tranh tại lãnh thổ địa phương, luôn phải đối đầu với một lực lượng địch đáng kể. Số lượng đôn quân từ Tiểu Khu này khá nhiều so với các Tiểu Khu khác trong Vùng 2. Vị Chiến Đoàn Trưởng ra lệnh ưu tiên chọn các anh lính trẻ Bình Thuận bổ sung cho Đại Đội Trinh Sát.

Được sự hướng dẫn của vị đại đội trưởng và các sĩ quan trẻ, nổi tiếng đánh đấm trên chiến trường, cùng học hỏi kinh nghiệm, noi gương gan dạ từ những người trinh sát cũ đã dạn dày chiến trận, một số lính địa phương quân được bổ sung cho đại đội Trinh Sát, sớm trở thành các chiến sĩ thiện chiến trên trận mạc. Trong số này có một anh rất trẻ, đã lập khá nhiều chiến công lẫm liệt, luôn được vị đại đội trưởng đề nghị cấp trên khen thưởng sau mỗi cuộc hành quân. Thành tích xuất sắc nhất là khi anh tình nguyện một mình ôm lựu đạn bò vào tiêu diệt cái chốt của địch gồm nhiều ổ súng phòng không, nằm trong một hốc đá kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao. Chính cái chốt quỷ quái này đã gây cho các đơn vị ta nhiều thiệt hại và đe dọa không nhỏ đối với các phi cơ đổ quân và chiến đấu hoạt động trong vùng.

Tôi đã gặp anh lính trẻ này vài lần và rất quí mến cậu ta. Không ngờ với một khuôn mặt hiền hậu, khôi ngô mà lại là một chiến sĩ can trường, dũng cảm. Có lần anh thú nhận với tôi là đã làm khai sanh tăng thêm ba tuổi để xin đầu quân. Một đôi lần, tôi móc túi cho cậu ít tiền để uống cà phê, khi nghe nói hằng tháng phải gởi tiền về nuôi mẹ. Ngược lại, sau mỗi cuộc hành quân, cậu cũng tìm đến thăm tôi, kể lại cho tôi những gì xảy ra trong trận đánh, và chăm chú ngồi nghe tôi nhận định. Đôi mắt cậu lúc nào cũng sáng lên niềm kiêu hãnh về các cấp chỉ huy, cùng đơn vị mà cậu ta đang phục vụ.

Vào khoảng cuối năm 1973, Đại Đội Trinh Sát được trực thăng vận đổ xuống giữa một trân chiến đang mịt mù lửa đạn để giải cứu cho một đơn vị BĐQ Biên Phòng đang bị vây hãm vì đã cạn đạn dược sau hơn hai ngày kiên cường chiến đấu, mà không thể nhận được tiếp tế. Một cuộc chiến khốc liệt, đẫm máu, mà các chiến sĩ trinh sát phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, tạo thời cơ cho các chiến sĩ BĐQ/BP bên trong phá vòng vây, dũng cảm xông ra. Địch quân bị tiêu diệt trong thế gọng kềm. Chiến trường kết thúc mau lẹ, đám địch còn sống sót, một số bị bắt, một số tháo chạy bị các trực thăng võ trang của Phi Đoàn 235 Sơn Dương truy kích.

Anh trung úy đại đội trưởng Trinh Sát bị thương nhẹ, nhưng vẫn tiếp tục điều quân chiến đấu. Ngay sau khi vừa được tản thương về QYV Pleiku, anh được Ông Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng BĐQ, đến gắn cấp bậc đại úy và anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Khi ấy anh vừa đúng 25 tuổi.

Tôi tháp tùng ông Chiến Đoàn Trưởng đến thành Dak Pha dự lễ Tuyên Dương Công Trạng toàn thể Đại Đội Trinh Sát, và trao gắn cấp bậc, huy chương cho những chiến sĩ có chiến công xuất sắc trong trận chiến hào hùng này. Buổi lễ dưới sự chủ tọa của ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn. Đại Đội được trình diện bởi anh trung úy Đại Đội Phó, xử lý thường vụ thay anh Đại Đội Trưởng còn đang điều trị trong QYV. Sau khi quân kỳ của Đại Đội được vị Tướng Chủ Tọa trịnh trọng choàng giây biểu chương màu Tam Hợp, các chiến sĩ xuất sắc được xướng danh ra trình diện trước thượng cấp.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không nghe tên và cũng không thấy mặt người lính trẻ có tiếng can trường đôn quân từ Tiểu Khu Bình Thuận trong số những người được tưởng thưởng. Chờ buổi lễ chấm dứt, tôi hỏi anh đại đội phó. Tôi ngẩn người khi anh cho biết là cậu lính trẻ ấy đã hy sinh khi tình nguyện xông vào diệt ổ đại liên cản đường, để cả đại đôi tiến lên. Anh đã gục ngã ngay trên nắp hầm địch cùng lúc tiêu diệt toàn bộ tổ đại liên của địch. Vì không có phương tiện đưa thi hài anh về nguyên quán, hơn nữa anh chết không toàn thây, không muốn cho thân nhân quá đau đớn khi nhìn thấy, nên đơn vị đã làm lễ truy thăng và chôn cất anh tại nghĩa địa Kontum. Tôi hỏi kỹ vị trí ngôi mộ và dặn lòng sẽ đến thăm nơi an nghỉ của người lính trẻ can trường đáng mến này.

Bỗng một hôm, thấy anh đại đội phó đưa một người đàn bà đến Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn để làm hồ sơ tử tuất. Tôi hỏi, mới biết ngươi đàn bà này là mẹ của người lính trẻ vừa mới hy sinh. Anh đại đội phó còn cho biết là sau khi làm hồ sơ xong, anh và vị Thiếu tá CTCT của Chiến Đoàn sẽ đưa bà ra thăm lại mộ con lần chót trước khi về quê. Tôi bảo anh đại đội phó là tôi sẽ tháp tùng. Tôi muốn một lần đưa tay chào vĩnh biệt người lính trẻ mà tôi hằng mến mộ.

Khi cùng với người mẹ đứng trước mộ, tôi ngạc nhiên khi thấy trên tấm bia, dưới tên của anh có ghi nơi sinh quán: Làng Long Giang – Xã Long Hoa – Bình Thuận. Tôi nhớ tới khu làng quê có hàng me cao nằm bên quốc lộ, mà tám năm trước có lần đại đội tôi đã đóng quân, và tiêu diệt tất cả đám du kích có tiếng của làng này.

Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ:

– Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm?

Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe:

– Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt.

Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhìn tôi nói lời cám ơn. Tôi nghĩ là bà không nhận ra tôi, người đã chỉ huy cuộc hành quân năm xưa, và từng đóng quân ngay trong vườn của nhà bà.

Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.

Phạm Tín An Ninh


Đại tá Lương Xuân Việt được vinh thăng Chuẩn Tướng

(Tổng hợp)

Được tin Đại tá Lương Xuân Việt được vinh thăng Chuẩn Tướng, chúng tôi đã liên lạc với ông Lê Quang Sinh, người vừa ra mắt Truyện Ký “Người Trai Thời Chiến”, người đã có một sự liên hệ “Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ” trong thời gian Trung tá Lương Xuân Việt đang phục vụ “Chiến dịch Người Iraq Tự Do”. Cuối tháng Giêng năm 2009, ông được vinh thăng Đại tá và đả nhận chức vụ mới, Lữ Đoàn Trưởng thuộc Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ. Bài viết của tác giả Như Hoa Lê Quang Sinh liên quan đến sự kiện này có trong Truyện Ký NGƯỜI TRAI THỜI CHIẾN.

Cuối tháng Giêng năm 2009, trong lúc đồng hương Việt Nam khắp nơi ở hải ngoại tưng bừng đón Xuân với cái Tết truyền thống đầy màu sắc dân tộc thì một bản tin khá đặc biệt đã làm nức lòng người Việt tỵ nạn: Trung tá Lương Xuân Việt, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 505 Bộ Binh Nhảy Dù Hoa Kỳ, từng chiến đấu nhiều năm tại chiến trường Iraq trong chiến dịch Chống Khủng Bố Toàn Cầu, được vinh thăng Đại Tá và giữ nhiệm vụ mới là Lữ Đoàn Trưởng thuộc Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ. Lễ bàn giao chức vụ chỉ huy sẽ được diễn ra ở Vũ trường của Sư Đoàn tại Fort Campbell, Kentucky, lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Năm, 5 tháng 2-2009.

Đại Tá Lương Xuân Việt là con cựu Thiếu Tá binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và cháu của người bác và cậu cũng từng phục vụ trong Quân đội VNCH. Vốn mang sẵn trong người dòng máu nhà binh, Đại tá Lương Xuân Việt, sau khi tốt nghiệp Đại học ngành Sinh hóa và Khoa học Nghệ thuật Quân sự, đã sớm “nhập cuộc” để chiến đấu cho lý tưởng Tự Do và bảo vệ Tổ Quốc. Ông lần lượt giữ các chức vụ tác chiến cấp Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, cũng như Tham mưu và Huấn luyện. Trước khi được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm vào chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 101 Nhảy Dù, ông đã làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 505 Bộ Binh Nhảy Dù vào năm 2005 và chiến đấu tại chiến trường Iraq với cấp bậc Trung tá để phục vụ “Chiến Dịch Người Iraq Tự Do”.

Nhớ lại khoảng năm 2004, Trung sĩ Bùi Thanh Thảo, một chiến sĩ Mỹ gốc Việt can trường trong Quân Lực Hoa Kỳ chiến đấu cho lý tưởng Tự do tại chiến trường Iraq sôi động và dương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ giữa thủ đô Baghdad. Hành động cao đẹp của chiến sĩ Thảo đã nói lên tinh thần yêu nước cao độ nối tiếp truyền thống anh dũng của cha ông. Bùi Thanh Thảo đã được đồng hương tỵ nạn ở Mỹ đón tiếp như một “anh hùng” khi trở về từ chiến trường Iraq. Cảm kích tấm lòng yêu nước của người bạn trẻ, hội thơ chúng tôi – Vietnamese International Poetry Society trụ sở đặt tại Garland, Texas, đã gởi đến anh Bùi Thanh Thảo đang chiến đấu ở Iraq những tác phẩm thơ văn, báo chí bằng tiếng Việt, tiếng Anh, và CD thơ nhạc do hội chúng tôi xuất bản để hỗ trợ tinh thần cho anh và các chiến hữu Việt cũng như Mỹ của anh sau những giờ chiến đấu gian khổ. Đặc biệt từ mùa Xuân 2004 đến 2007, Hội Thơ đã yểm trợ “Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ” thuộc đơn vị lúc bấy giờ dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lương Xuân Việt với những tác phẩm do chúng tôi xuất bản gồm thi tập CHTY (do các nhạc sĩ Võ Tá Hân, Hoàng Gia Thành, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Tất Vịnh thực hiện có kèm theo những tập nhạc của các nhạc sĩ nói trên).

Bất ngờ vào đầu tháng 5 năm 2007, chúng tôi nhận được Bằng Tưởng Lệ kèm theo lá thư Tuyên Dương hội thơ “Vietnamese International Poetry Society” của Trung tá Lương Xuân Việt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Bộ Binh Nhảy Dù gửi đến từ chiến trường Iraq. Thật cảm kích và xúc động biết bao khi đọc những dòng chữ còn vương màu khói lửa của chiến trường sôi động bên vùng trời Iraq nơi mà hầu như mỗi ngày đều có những người dân vô tội phải hy sinh vì bom tự sát. Nghĩ đến những chiến sĩ từ những miền xa xôi đến đây để chiến đấu cho lý tưởng Tự do và nền dân chủ của nước Iraq phải chịu đựng bao nhiêu là gian khổ hiểm nguy, tôi nghe lòng mình tràn ngập tình tự cảm phục và quý mến họ, nhất là đối với những chiến sĩ người Mỹ gốc Việt đã không hổ danh là con cháu của Trần Hưng Đạo- Quang Trung. Họ là những chiến sĩ anh dũng, những cấp chỉ huy quân sự tài ba đã làm cho thượng cấp và đồng đội người Mỹ và bản xứ kính nể. Trong nội dung Bằng Tưởng Lệ, Trung tá Lương Xuân Việt đã ca ngợi những công tác hỗ trợ cho các chiến sĩ Mỹ gốc Việt của Hội Thơ qua “Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ” từ 2004đến 2007. Ông viết: “Sự cống hiến và khích lệ của quý vị đã nâng cao tinh thần và sức khoẻ của các chiến sĩ Mỹ gốc Việt trong cuộc chiến toan caau chống khủng bố. Lòng yêu nước được chứng minh bởi Hội Thơ Quốc Tế Việt Nam (VIPS) là một gương sáng của lòng vị tha và được toàn thể các chiến sĩ Mỹ gốc Việt phục vụ ở nước ngoài nhiệt tình tri ân. Sự đóng góp xuất sắc này đã đem lại tiếng tốt cho Tổ chức của quý vị, cho Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và Hoa Kỳ.

Thưa các bạn, Thay mặt cho tất cả các chiến sĩ Mỹ gốc Việt hiện đang phục vụ “Chiến Dịch Người Iraq Tự Do”, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với sự hỗ trợ của các bạn qua “Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ”. Sự quảng đại, tình yêu nước, và lòng trắc ẩn của các bạn thật sự đã đem lại phấn khởi cho các chiến sĩ đang phục vụ ở nước ngoài để hỗ trợ Cuộc Chiến Toàn cầu Chống Khủng Bố. Thật hết sức ngạc nhiên ki nhận được sự hỗ trợ đó vào thời gian mà sự hỗ trợ trở nên hiếm hoi đối với cuộc chiến đang tiếp diễn. Lòng vị tha của các bạn nhắc nhở chúng tôi về những đức tính quý báu của người Mỹ gốc Việt và thật là quan trọng biết bao để bảo vệ Tự Do và cách sống của chúng ta. Tôi đã gặp một số người Mỹ gốc Việt trong nhiệm kỳtác chiến của họ, và mỗi một cá nhân đều đã chiến đấu như mãnh hổ với tinh thần đích thực của Quang Trung-Trần Hưng Đạo. Họ đại diện cho nền văn hóa và di sản của chúng ta một cách phi thường. Xin cám ơn tất cả những gì mà các bạn đã làm và đang tiếp tục theo đuổi công việc bảo vệ di sản và nòi giống Việt anh dũng của chúng ta”.

Trước 1975, quân nhân VNCH chiến đấu nơi tiền tuyến, hoặc đóng đồn ở các miền rừng núi xa xôi cũng được các đoàn văn nghệ đến giúp vui. Sự hỗ trợ tinh thần này rất cần thiết cho những chiến sĩ ngày đêm thi hành nhiệm vụ chống cộng để đem lại sự an toàn cho đồng bào ở hậu phương. Họ là những chiến sĩ đã hy sinh xương máu mình để bảo vệ lý tưởng Tự Do, Hòa Bình và Công Lý cho dân tộc Việt Nam và toàn thế giới. Ngày nay, nối tiếp truyền thống cha ông, các chiến sĩ Mỹ gốc Việt đang chiến đấu rất anh dũng tại các chiến trường Iraq. Họ thật xứng đáng được đồng bào Việt Nam hải ngoại hỗ trợ tinh thần như các chiến sĩ tiền bối của họ đã từng được hỗ trợ. Hội thơ V.I.P.S. chúng tôi rất lấy làm hãnh diện và vui mừng đã đóng góp phần khiêm nhượng của mình trong công tác “tâm Lý Chiến” đối với các chiến sĩ Mỹ gốc Việt tại mặt trận Iraq trong những năm vừa qua.

Văn nghệ nói chung và thơ nhạc nói riên cũng là một thứ vũ khí chiến đấu lợi hại giúp thắng kẻ thù. Cho nên trước kia và ngay nay người ta vẫn dùng thơ, nhạc để giúp cho binh sĩ hăng say nức lòng đánh giặc. Binh sĩ ở tận đồn xa, hay ngay cả tù nhân trong trại giam của cộng sản nữa, cũng hay dùng âm nhạc để xoa dịu những nỗi nhớ nhà, để quên đi những nhọc nhằn đời lính hoặc khổ sở ở kiếp tù đày. Một cây đàn thùng cũ kỹ, một chiếc radio nhỏ bé là những người bạn thân thiết của người lính xa nhà hay người tù bất hạnh. Nhận thấy sự cần thiết của âm nhạc trong đời sống quân ngũ, một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng chiến đấu tại chiến trường Việt Nam trước đây đã có sáng kiến mở một chiến dịch tặng đàn cho các chiến sĩ phục vụ xa nhà. Ông đặt tên cho nỗ lực của mình là “Chiến dịch nốt nhạc vui”. Niều cây đàn đủ loại như Guitare, Banjo, Mandolin, kèn Trumpet, Clarinet, Harmonica đã được gửi tặng cho các chiến sĩ đang thi hành nhiệm vụ xa nhà. Thế là tiếng hát tiếng đàn đã bắt đầu vang dội chiến trường Iraq những năm gần đây.

Đại Tá Lương Xuân Việt, tư lệnh phó Sư Đoàn 1 Thiết Kỵ, Fort Hood, Texas, vừa được Tổng Thống Barack Obama đề cử thăng cấp Chuẩn Tướng hôm 20 Tháng Năm và có tên trong danh sách ngày 4 Tháng Sáu, đệ trình Thượng Viện Hoa Kỳ. Theo thông lệ, danh sách này coi như chính thức và đợi ngày Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua. Ông sẽ là sĩ quan cấp tướng gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ.

Đại Tá Lương Xuân Việt được thăng cấp chuẩn tướng là niềm hãnh diện và vẻ vang cho các anh em quân nhân Mỹ gốc Việt nói riêng và cho cộng đồng người Việt, nói chung. Ông là một ngôi sao sáng của thế hệ chúng tôi,” cựu Trung Tá Ross Nguyễn, chủ tịch hội quân nhân Mỹ gốc Việt (VAAFA) và là sĩ quan gốc Việt phục vụ 28 năm đơn vị công binh tác chiến của quân đội Hoa Kỳ, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

Ông Lương Xuân Việt từng là tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Kích Dù, rồi nắm chức trung đoàn trưởng Sư Đoàn 101 Không Kỵ. Sau đó, ông là tư lệnh phó Sư Đoàn 1 Thiết Kỵ cho đến nay. Chức vụ này thường phải do sĩ quan cấp tướng đảm nhiệm,” người cựu sĩ quan gốc Việt nói.

Hồi Tháng Tư năm nay, khi ông về giữ chức tư lệnh phó đơn vị hiện thời, chúng tôi đã thấy xác xuất để Đại Tá Việt lên cấp tướng rất cao. Trong tinh thần chiến hữu, ông là niềm hãnh diện cho các quân nhân người Mỹ gốc Việt. Ông còn là gương sáng và là mẫu người lãnh đạo cho giới trẻ gốc Việt mai sau,” vị chủ tịch hội VAAFA nói.

Chúng tôi thường đi uống cà phê khi gặp nhau tại Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Lúc ấy ông mới thuyên chuyển về Fort Hood, Texas,” Cựu trung Tá Ross Nguyễn nói.

Theo trang nhà của Sư Đoàn 1 Không Kỵ, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt cùng gia đình tị nạn chính trị và định cư năm 1975 tại Hoa Kỳ. Ông nhập ngũ sau khi tốt nghiệp Đại Học USC.

Đơn vị đầu tiên ông phục vụ là Trung Đoàn 8 Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 1 tại Fort Carson, Colorado, với chức vụ trung đội trưởng chống xe tăng và đại đội trưởng bảo trì của sư đoàn.

Năm 1993, ông được thuyên chuyển đến Fort Bragg, North Carolina, phục vụ Trung Đoàn 325 Không Kỵ, Lữ Đoàn 82 Nhảy Dù, thuộc Sư Đoàn 2, với chức vụ Phụ tá chỉ huy trưởng hành quân của sư đoàn, sau là đại đội trưởng Đại Đội Alpha. Trong khi giữ chức vụ này, ông được chuyển đến Haiti để tham gia cuộc “Hành Quân Vì Dân Chủ” với chức vụ chỉ huy trưởng lực lượng “Theater Quick Reaction Force.”

Sau đơn vị ở Fort Bragg, ông được được chọn gia nhập Trung Tâm Huấn Huyện Liên Quân ở Fort Polk, Louisiana, với chức vụ quan sát viên thanh tra. Ông theo học Trường Cao Đẳng Chỉ Huy và Tham Mưu và được chuyển đến Lực Lượng Đặc Nhiệm Phía Nam Âu Châu (SETAF). Ông là chỉ huy trưởng kế hoạch và sĩ quan hành quân Lữ Đoàn 173 Không Kỵ thuộc Trung Đoàn Nhảy Dù 508 của Sư Đoàn 1, tại Vicenza, Ý. Nơi đây ông được điều đến Kosovo và Bosnia-Herzegovina trong kế hoạch của Lực Lượng Đối Phó Chiến Lược của khối NATO.

Ông tham gia và giữ nhiều chức vụ quan trọng ở Fort Bliss, Texas để hỗ trợ Bộ Nội An. Năm 2005, ông là chỉ huy trưởng Lữ Đoàn 3 Dã Chiến, Trung Đoàn Nhảy Dù 505 của Sư Đoàn 82 Nhảy Dù. Ông tham gia đơn vị hành quân “Operation American Assist,” trợ giúp nạn nhân bão Katrina ở New Orleans, chiến dịch hành quân Freedom 06-08 “War on Terror” ở Iraq.

Năm 2009, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt chỉ huy Lữ Đoàn 3 Dã Chiến (Rakkasans) thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù 101. Năm 2010, Lữ Đoàn 3 tham gia cuộc hành quân “Enduring Freedom 10-11” ở Afghanistan. Sau khi chỉ huy đơn vị này, ông được mời làm thành viên an ninh quốc gia “National Security Fellow” và giám đốc “Pakistan Afghanistan Coordination Cell” thuộc bộ tham mưu hỗn hợp J5.

Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt tốt nghiệp đại học USC văn bằng Biological Sciences và bằng cao học Military Arts and Science.

Ông là con trai duy nhất trong gia đình có 7 chị em gái đều thành công trên đất Mỹ. Thân phụ ông là Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Lương Xuân Đương, đã qua đời năm 1997 tại California. Thân mẫu của ông sinh sống tại Los Angeles. Qua Mỹ năm 1975, khi chưa đầy 10 tuổi, gia đình ông chọn thành phố Mountain View, California để sinh sống.


Vài mẩu chuyện về Tướng Cao Văn Viên

Người Lính Kèn (SA)

Thời VNCH, có người cho rằng không ít các vị tướng lãnh tin vào bói toán. Trước khi hành quân, thường được những vị tướng số tín cẩn cho vài lời khuyên. Riêng Tướng Viên, Ông tin rằng cuộc đời của mỗi người dường như có sự sắp xếp trước của Đấng Tối Cao. Và sau đây, Ông kể lại vài mẫu chuyện đã xảy ra trong đời mình để dẫn chứng.

Chuyện tình cờ

Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm Ông mang cấp bậc Trung tá, chức vụ Tham Mưu Biệt Bộ Phủ Tổng Thống. Một hôm Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Lữ Đoàn Dù đến xin gặp Tổng Thống, nhưng Tổng Thống đang tiếp khách nên Đại Tá Thi lại chỗ ông làm việc ngồi tán gẫu để chờ. Hai người nói chuyện một lúc, Đại Tá Thi nhìn Ông rồi nói:

– ‘Moa’ nhìn ‘toa’ không có vẻ gì là dân nhà binh cả. Con nhà võ gì mà nước da trắng bóc như con gái thấy yếu quá. Học nhảy dù đi, ‘moa ‘ sắp xếp cho ‘toa ‘ một huấn luyện viên giỏi, dạy riêng một mình ‘toa’ cho nhanh và khi nhảy ‘sô’ đầu, ‘moa’ nhảy chung để khuyến khích tinh thần.

Ông Viên nói:

– Làm việc với Ông Cụ (tiếng mấy Ông thường dùng khi đề cập đến Tổng Thống Diệm) không có giờ giấc gì cả. Nhiều khi đang đêm Ông cũng gọi vào. Từ trước đến giờ mình vẫn ở trong Chợ Lớn. Nhưng hiện nay có nhiều chuyện xảy ra bất thường nên Ông Cụ cấp thêm cho một căn nhà ở gần Bệnh viện Đồn Đất để khi Ông gọi, vào cho nhanh.

Tuy thế, Ông Thi vẫn cố thuyết phục, cuối cùng Ông Viên nói:

– Mình cũng thích học nhảy dù lắm. Để hôm nào Ông Cụ vui, mình xin thử xem sao, nhưng chưa chắc được chấp thuận.

Nhưng sau đó, Ông Viên được Tổng Thống Diệm đồng ý cho sắp xếp giờ làm việc để học nhảy dù.

Một hôm khoảng nửa đêm, Tổng Thống Diệm gọi Ông vào ngay có chuyện khẩn cấp. Hằng ngày Ông đi làm bằng chiếc xe dân sự mang hai bảng số, bảng số vàng quân đội bên trong, bên ngoài gắn bảng số dân sự thường gọi là số ẩn tế. Lộ trình Ông đi từ bệnh viện Đồn Đất đến đầu đường Nguyễn Du phía nhà thờ Đức Bà. Theo đường Nguyễn Du, qua khỏi ngả tư Công Lý một đoạn ngắn, quẹo mặt vào cổng sau Dinh Độc Lập. Nhưng khi còn cách ngã tư một đoạn ngắn, thình lình thấy có những đốm lửa lóe sáng từ những gốc cây me trước mặt và kiếng chắn gió phía trước xe Ông bị bể nát. Không biết chuyện gì, Ông ngừng lại. Ngay sau đó, một Đại Úy dù cùng vài người lính tiến đến, chiã súng vào Ông và nạt lớn: “Tại sao hô dừng lại mà không tuân lệnh?” Ông cho biết vì kiếng xe quay kín nên không nghe. Họ ra lệnh xuống xe lục soát, tịch thu khẩu súng ngắn Ông mang theo và ra lệnh ngồi xuống gốc cây me bên vệ đường. Sau đó một chiếc taxi chạy đến cũng gặp trường hợp tương tự như Ông. Nhưng khi người lính Nhảy Dù mở cửa xe, xác người tài xế taxi chết ngã xuống đường.

Thấy toàn lính mặc quân phục Nhảy Dù, Ông xin gặp Đại Tá Thi. Vị Đại Úy nói Đại Tá Thi rất bận, không tiếp bất cứ ai trong lúc này. Ngồi một lúc khá lâu, thấy họ đang bận rộn và cũng không để ý đến mình, Ông lặng lẽ băng qua bên kia đường, vào nhà dân xin tạm lánh mặt, đợi trời sáng tìm cách về nhà.

Khi cuộc đảo chánh bất thành, Đại Tá Thi cùng toán cầm đầu đảo chánh chạy qua Cao Miên. Tổng Thống Diệm chấn chỉnh lại quân đội, Ông được thăng cấp Đại Tá. Vì có bằng Nhảy Dù, nên Tổng Thống Diệm cho Ông làm Tư lệnh Lữ Đoàn Dù.

Thời gian thử thách

Từ một sĩ quan văn phòng một đơn vị khác về giữ chức vụ cao nhất của một đơn vi thiện chiến có vẻ đầy cam go. Phần đông không tin tưởng, thiếu thiện cảm vì hoàn toàn xa lạ đối với họ. Tuy không phải là một qui luật, nhưng theo thông lệ từ khi đơn vị mới thành lập, những người nắm chức vụ quan trọng đều xuất thân trong binh chủng từ bắt đầu từ cấp bậc nhỏ đi lên, nên không hoàn toàn xa lạ đối với họ.

Qua kinh nghiệm của các vị tướng cầm quân nổi tiếng từ xưa, muốn chỉ huy thuộc cấp dễ dàng trước tiên phải được họ kính trọng, yêu mến và nể phục. Muốn được như thế, cần phải có những đức tính sau đây: Luôn quan tâm đến họ. Lắng nghe và giải quyết mọi thắc mắc và ý kiến họ nêu lên một cách thỏa đáng. Khen thưởng phân minh, không thiên vị. Luôn sát cánh và chia sẻ mọi hiểm nguy và gian lao cùng với họ. Rộng lượng, sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm nhỏ nhặt và không hiềm thù cá nhân.

Một hôm đang ngồi tại văn phòng, có một vị Đại Úy vào trình diện và tự giới thiệu là người đã tước khẩu súng và bắt Ông ngồi ở gốc cây me trong cuộc đảo chánh bất thành. Ông ta xin tha lỗi và xin được trả lại khẩu súng. Ông Viên vui vẻ nói:

– Anh không có lỗi gì cả. Hôm đó, anh chỉ thi hành theo lệnh cấp trên, nhưng may mắn cho tôi là không giống như người tài xế taxi. Thôi hãy quên đi chuyện đã qua và yên tâm làm việc.

Ông còn cho biết Đại Tá Thiệt, Ông đề cử làm Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh sau này là người đã dí súng vào lưng, còng tay và giam Ông theo lệnh Ông Dương văn Minh khi Ông từ chối theo phe đảo chánh Tổng Thống Diệm. Ông cho rằng, khi một người nào đó có hành động xúc phạm đến mình, mình phải phân biệt đó là hành họ thi hành lệnh thượng cấp hay ý kiến riêng của họ.

Một tai nạn nhỏ suýt làm tan đời binh nghiệp.

Thời gian đó, Ông coi như đang trong giai đoạn thử thách, vì thế mọi cuộc hành quân dù lớn nhỏ, Ông đều tham gia. Trong một cuộc hành quân qui mô được tổ chức tại Đồng Tháp Mười có thể kéo dài trong vài ngày. Trong ngày đầu, sau khi vượt qua một đoạn đường dài sình lầy đầy gian nan, có nơi nước cao đến thắt lưng. Khi đến một địa điểm an toàn, Ông cho dừng quân để dùng cơm và nghỉ ngơi. Hôm đó, Ông dùng cơm chiên lạp xưởng từ nhà mang theo. Sau một hồi nghỉ ngơi, khi ra lệnh di chuyển, bụng bắt đầu ngấm ngầm đau. Ông nghĩ chắc chỉ đau trong giây lát sẽ qua nên cố gắng đi. Nhưng không như Ông nghĩ, cơn đau mỗi lúc một tăng thêm, thỉnh thoảng lại quặn thắt làm mồ hôi toát ra, không thể theo kịp đoàn quân. Một tình trạng nan giải đối với Ông lúc bây giờ. Các giải pháp lần lượt thoáng qua trong đầu: Dừng quân chờ qua cơn đau sẽ tiếp tục? – Nhờ lính dìu đi? Nằm băng ca cho quân y khiêng? Cả 3 giải pháp trên đều không thể thực hiện được!. Nếu áp dụng 1 trong 3 giải pháp trên, sự nghi ngờ về khả năng của mình nay được chứng minh. Ông nghĩ ra một giải pháp khác hy vọng cứu vảng được tình thế.

Ông ra lệnh toán quân đi đầu di chuyển thật chậm, vì đi nhanh không thể lục soát kỹ được đồng thời gọi bác sĩ Quân y đến cho biết tình trạng bị đau bụng sau khi ăn trưa để họ điều trị.

Rất may, sau một thời gian ngắn, cơn đau giảm dần rồi dứt hẳn. Ông rất vui mừng vì vừa thoát được một tai nạn tuy nhỏ, nhưng nếu không vượt qua được, thì nếu không làm tiêu tan thì cũng mang một vết nhơ trong đời binh nghiệp của mình.

Trận Kiến Phong

Trên phần đất thuộc tỉnh Kiến Phong giáp biên giới Cao Miên, Việt Cộng thành lập một mật khu khá lớn. Mỗi khi ta mở cuộc hành quân truy quét, chống cự không lại, chúng rút qua phần đất an toàn bên kia biên giới Cao Miên. Ta không được phép vượt qua ranh giới để truy kích chúng. Vì thế một kế hoạch hành quân san bằng mật khu Việt Cộng được soạn thảo và thi như sau:

– Toán một gồm bộ binh và thiết giáp, âm thầm di chuyển trong đêm tối không để địch phát hiện đến một địa điểm ấn định gần mật khu Việt Cộng nằm yên chờ lệnh.

– Toán hai cũng lên đường lúc ban đêm. Khi đến sát biên giới Miên, bọc phía sau căn cứ địch để chặn đường rút lui của chúng. Tỉnh Kiến Phong đề cử một hướng dẫn viên người địa phương rành địa hình dẫn đường, toán này do Ông Viên chỉ huy. Khi đến địa điểm, bố trí xong sẽ cho lệnh toán một tấn công.

Sau khi nghiên cứu bản đồ, tính chiều dài đoạn đường, tốc độ di chuyển, thời gian đến địa điểm rẽ vào sau căn cứ địch, toán hai bắt đầu khởi hành. Ông cho biết đêm hôm đó trời tối đen, tầm nhìn rất gần, có đoạn người này phải nắm lưng người kia khi di chuyển cho khỏi bị lạc. Ông thường xuyên nhìn vào nhìn đồng hồ dạ quang để kiểm soát giờ. Đi một lúc khá lâu, hướng dẫn viên cho biết đến địa diểm rẽ vào phía sau căn cứ địch. Nhìn đồng hồ dạ quang, Ông thấy chưa đến giờ như đã định, Ông liền hỏi lại hướng dẫn viên có lầm không? Người này trả lời quả quyết:

– Tôi thuộc nằm lòng đường đi nước bước ở đây nên không thể sai được. Nếu có sai, tôi sẽ là người chết trước.

Sau khi nghe người hướng dẫn trả lời quả quyết như thế, Ông nghĩ rằng có thể mình di chuyển với tốc độ nhanh hơn dự tính nên đến địa điểm sớm hơn. Đoàn quân liền rẽ vào và tiếp tục di chuyển. Vừa tờ mờ sáng, doanh trại địch hiện ra ngay trước mặt, khoảng cách chỉ độ 50m. Thấy quân ta xuất hiện thình lình, địch liền khai hỏa. Ông cho biết ở tình thế này phải xung phong ngay để áp đảo địch, không còn lựa chọn nào khác.

Ông vừa xoay người điều động cánh quân bên phải tấn công, một viên đạn xuyên qua vai. Nếu không, có thể viên đạn đã trúng ngay ngực. Toán một và thiết giáp đang chờ lệnh bỗng nghe súng nổ, biết có chuyện bất thường, liền nhanh chóng tràn vào tiếp viện. Sau trận này, Ông được Tướng Nguyễn Khánh gắn cấp bậc Thiếu Tướng tại giường bệnh Quân Y Viện Cộng Hòa.

Trên đây là những chuyện xảy ra được Ông kể lại để chứng minh niềm tin vào Thượng Đế của mình.

Trong lúc nói chuyện, tôi hỏi:

– Anh có ý định viết Hồi Ký không? Anh đã giữ những chức vụ quan trọng trong hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa khá lâu, vì thế có những chuyện anh biết được nhưng người khác không biết hay biết một cách không chính xác. Nếu anh ghi lại sẽ giải đáp được một số bí ẩn, đồng thời giữ lại những tư liệu quí giá cho các nhà nghiên cứu hay viết sử sau này.

Ông trả lời:

– Những chuyện đã xảy ra thường được một số người biết, bằng chứng là họ đã ghi lại trong Hồi Ký đã xuất bản. Tuy nhiên ghi lại có trung thực hay không là một chuyện nên xem lại.

Ông hỏi lại tôi:

– Em có xem phim Rashomon của Nhật không?

– Tôi trả lời có, nhưng xem lúc còn nhỏ nên chỉ thích những màn đấu kiếm chứ không hiểu ý nghĩa của phim. Bây giờ cũng không nhớ cốt truyện như thế nào.

Anh liền vắn tắt kể lại:

– Tại ngôi đền RASHOMON đổ nát trong một ngày mưa bão, có ba người khách ghé vào trú mưa. Trong lúc ngồi bên ngọn lửa để sưởi ấm, họ đề cập đến lời khai của những người liên quan đến vụ án mạng và nhân chứng làm xôn xao dư luận vì không có lời giải đáp. Trong số ba người hiện diện, nhà sư và người tiều phu là hai nhân chứng đã khai trước công đường. Họ thuật lại như sau:

Người tiều phu:

– Như thường lệ, mỗi ngày tôi vào rừng đốn củi. Vừa qua trên đường đi, gặp xác chết của một Võ Sĩ Đạo, tôi liền quay về báo ngay với quan chức địa phương.

Nhà sư:

– Ba ngày trước, vì có việc phải băng qua cánh rừng. Trên đường đi có gặp vợ chồng Võ Sĩ Đạo. Chồng đi bộ, vợ cưỡi ngựa, hai bên chỉ chào nhau rồi đường ai nấy đi.

Lính tuần tra dẫn một người đang bị trói, trông rất hung bạo vào công đường báo cáo: Tôi đang đi tuần tra trong khu vực, tình cờ gặp một người ngã ngựa nằm bên bờ sông. Trên mình hắn bị trúng 17 mũi tên và ngựa của người Võ Sĩ Đạo bị giết vẫn cạnh bên hắn. Tôi lại gần xem, phát hiện hắn là tên cướp lừng danh ở vùng này. Hắn đang oằn oại kiệt sức, tôi liền trói lại và giải giao cho quan chức địa phương.

Nghe lính tuần tra báo cáo, tên cướp tỏ vẻ giận dữ quát lại:

– Chuyện vô lý, ta mà bị ngã ngựa à? Vì vượt đoạn đường xa dưới trời nóng bức, thấy dòng suối nước trong, ta liền uống cho đỡ khát không ngờ gần đó có xác chết của một con rắn độc làm cho ta đau bụng nên nằm nghỉ ở bờ sông. Còn việc tên Võ Sĩ Đạo chết trong rừng, ta xác nhận chính ta đã giết hắn.

Tên cướp kể tiếp:

– Một buổi trưa Hè nóng bức, ta đang mơ màng dưới gốc cây trong rừng, vợ chồng tên Võ Sĩ Đạo đi qua. Cơn gió nhẹ thổi làm tung miếng vải che mặt người đàn bà. Vẻ đẹp của nàng đã hớp hồn ta nên ta phải tìm mọi cách chiếm đoạt. Ta liền lại gần và đưa cho cho hắn xem thanh bảo kiếm của ta, hắn rất thích thú. Ta cho hắn biết ta còn vài thanh như thế giấu gần đây, nếu hắn mua ta sẽ bán rẻ, hắn theo ta. Thừa lúc hắn không đề phòng, ta tấn công bất ngờ, hắn bị thất thế ta liền trói hắn lại và cưỡng hiếp vợ hắn. Sau khi đoạt được mục đích, ta bỏ đi vì không có ý định giết hắn, nhưng vợ hắn chạy theo kéo ta lại và nói: “Nàng đã thất thân với hai người, vì thế một trong hai người phải chết, nàng chỉ đi theo người còn lại”. Ta không bao giờ giết người thất thế, liền cởi trói và trả lại gươm cho hắn, thế là một trận thư hùng xảy ra. Hắn cũng là môt tay võ nghệ cao cường nhưng cuối cùng cũng đành phải ngã gục dưới lưỡi kiếm của ta.

Lời khai của Vợ Võ Sĩ Đạo:

Sau khi hãm hiếp xong, tên cướp còn nhạo báng chồng nàng. Khi tên cướp bỏ đi, vì quá tội nghiệp chồng, nên nàng đến bên khuyên lơn an ủi. Nhưng chồng nàng có thái độ im lặng bất thường. Cặp mắt chàng không tỏ vẻ tức giận nhưng nhìn nàng với ánh mắt lạnh lùng và ghê tởm. Quá thất vọng, nàng liền lấy dao găm mang theo cắt dây trói và đưa dao cho chàng bảo chàng hãy giết nàng đi chứ đừng có thái độ với nàng như thế, nhưng ánh mắt chàng vẫn không thay đổi. Quá chán nản và mệt mỏi, nàng thiếp đi lúc nào không hay. Khi giật mình tỉnh dậy, thấy chàng đã chết và cây dao găm của nàng cắm trên ngực. Nàng liền chạy đến một hồ nước gần đó nhảy xuống tự tử nhưng không chết.

Lời khai của Võ Sĩ Đạo qua người lên đồng:

– Tên cướp nói sở dĩ hắn làm thế vì yêu nàng, nên sau đó hết lòng an ủi và thuyết phục nàng. Hắn hứa sẵn sàng từ bỏ nghề cướp, trở lại làm ăn lương thiện nếu nàng muốn. Sau vài phút suy nghĩ, nàng đồng ý theo chàng đến bất cứ nơi nào nhưng trước tiên yêu cầu tên cướp hãy giết ta, vì nếu ta còn sống nàng không thể sống yên. Quá bất ngờ trước lòng phản trắc và vô nhân đạo của người đàn bà thay đổi quá nhanh, tên cướp tức giận đạp nàng ngã xuống và hỏi ta có muốn hắn giết nàng không? Hành động của tên cướp làm ta ngạc nhiên và ấm lòng. Ta sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của hắn. Nàng liền bỏ chạy, tên cướp đuổi theo. Sau đó, tên cướp trở lại cởi trói cho ta rồi lại bỏ đi. Ta quanh quẩn một mình khá lâu, quá chán nản vì tình đời, bỗng nhìn thấy con dao găm của nàng rơi gần đó, ta lượm lên và tự sát. Mọi cảnh vật chung quanh hoàn toàn im lặng. Ta nằm đó một lúc khá lâu rồi có người đến rút lấy con dao khỏi tim ta.

Trong khi nhà sư thuật lại toàn bộ câu chuyện trước công đường cho người khách lạ nghe, người tiều phu luôn lắc đầu tỏ vẻ bực bội và cho rằng mọi lời khai đều không đúng sự thật và láo khoét.

Người khách lạ liền hỏi người tiều phu:

– Có phải anh là người đã biết rõ mọi việc phải không? Tại sao anh không khai trước công đường?

Người tiều phu lặng thinh không trả lời. Thực ra, người tiều phu đã nấp trong bụi rậm, chứng kiến câu chuyện xảy ra từ đầu đến cuối nhưng vì anh ta đã giấu đi cây dao găm nạm ngọc quí giá của vợ Võ Sĩ Đạo, sợ bị tội nên không dám khai sự thật.

Cùng một sự việc xảy ra nhưng lời khai của mỗi nhân vật có mục đích như sau:

– Tên cướp: Hắn không nhận hắn bị ngã ngựa vì trúng tên của Võ Sĩ Đạo mà vì uống nước suối bị nhiễm độc. Dù là một tên cướp, nhưng hắn luôn tự hào: võ nghệ cao cường, tôn trọng tinh thần thượng võ, không hại người thất thế.

– Vợ Võ Sĩ Đạo: Hết lòng chung thủy với chồng nhưng chồng nàng không thông cảm, trái lại tỏ vẻ khinh bỉ. Vì thế, con đường duy nhất của nàng là tự tử để tránh nhục nhã.

– Võ Sĩ Đạo nhập vào người lên đồng: Nỗi nhục lớn nhất là tuy võ nghệ cao cường nhưng mắc mưu tên cướp nên không bảo vệ được vợ mình để bị tên cướp hãm hiếp. Sau đó lại bị vợ phản bội, quá chán nản nên quyết định tự sát chứ không thể sống nhục.

– Người tiều phu: Vì tham lam nên đã giấu đi cây dao găm nạm ngọc quí giá, một tang vật quan trọng của vụ án. Sợ tội nên không dám khai ra sự thật.

Sau khi kể lại câu truyện, Ông kết luận: Truyện phim đã đưa ra một triết lý thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta: “Khi đề cập đến vấn gì liên quan đến mình và nhiều người khác, trước tiên mình hay tự đề cao cá nhân mình trước. Những lỗi lầm của người khác mạnh dạn nói ra còn lỗi lầm của mình nếu không che giấu được cũng tìm cách làm cho nhẹ đi càng nhiều càng tốt.” Đó là một yếu điểm thường xảy ra khi viết Hồi Ký.

Cuộc sống hằng ngày.

Trước tiệm giặt của ông Cao văn Viên ở Mỹ

Qua Mỹ, tôi cố gắng đi nhiều nơi vì không biết chừng nào có dịp trở lại. Anh em trong giới nhà binh chúng ta thường có bạn bè ở rải rác nhiều nơi. Khi liên lạc được, họ cũng muốn gặp lại mình, trước tiên tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn, thời gian tù tội và tình cảnh hiện tại, luôn tiện hỏi thăm một số bạn thân bị mất liên lạc sau biến cố 30-4-75. Lúc bấy giờ tôi đang ở NewYork, qua đảo nơi có Tượng Nữ Thần Tự Do, tòa Tháp Đôi lúc chưa bị sập và vài người bạn gần đó. Trước khi về Virginia và Los Angeles, ghé qua New Jersey thăm Ông bà Viên. Tôi điện thoại cho biết hôm sau xe bus sẽ đến bến lúc 11 giờ sáng, nhờ cho người ra đón. Khi xe vào bến, tôi đã thấy ông đang đợi. Sau khi lấy hành lý xong, ra xe về đến nhà, Ông bảo rửa mặt cho khỏe trong lúc Ông đi hâm nóng thức ăn và bảo ăn xong ra chỗ làm. Nếu không sẽ bị đói vì đến chiều mới về.

Khi đến nơi, chỗ làm là căn nhà hai gian: một bên là Laundromat, bên kia là Dry Cleaners. Bà ngồi nhận và trả đồ giặt cho khách. Ông bắt đầu công việc: lấy quần áo đã nhận ra, tìm những gì còn sót lại trong túi áo quần nhất là bút bi. Nếu không, gặp nước nóng sẽ chảy lan ra quần áo khác. Sau đó tẩy những vết dơ, cân đúng trọng lượng bỏ vào máy giặt.

Thấy tôi mặc áo Jacket đã dơ, Ông bảo cởi ra để Ông giặt luôn. Công việc hằng ngày của Ông là sáng ra mở cửa, mở điện xem có máy nào bị trục trặc không? Nếu có, không tự sửa được thì gọi thợ. Kế tiếp qua khâu giặt, xong về nhà ăn cơm và đem cơm ra cho Bà ăn. Sau đó gom tiền kim loại từ máy giặt đem ra Ngân Hàng cân đổi tiền giấy. Chiều tới giờ đóng cửa, cài hệ thống báo động, tắt điện. Về nhà nấu nướng, tắm rửa ăn cơm xong cũng gần 9 giờ đêm. Đó là công chuyện thường xuyên mỗi ngày.

Trong lúc ngồi xem Ông làm, tôi có hỏi:

– Công việc trước kia và hiện nay của anh đang làm hoàn toàn khác nhau. Có khi nào anh cảm thấy chán và buồn không?

Ông trả lời:

– Chẳng những không mà còn trái lại. Công việc hiện nay đang làm là mình làm cho mình, mọi việc mình tự quyết định, không ai ép buộc hay ngăn cản được. Hôm nào khỏe mình làm, mệt đóng cửa nghỉ.

Trước kia có những việc trong phạm vi trách nhiệm của anh, anh muốn làm theo ý mình nhưng họ không cho, họ bắt làm theo ý họ. Nếu kết quả không tốt, bị dư luận kết án họ lại đổ lỗi cho mình.

Có rất nhiều chuyện, nhưng anh chỉ kể lại một trường hợp điển hình. Quân Lực VNCH gồm nhiều binh chủng. Ngoài việc huấn luyện chung căn bản quân sự, mỗi quân binh chủng được huấn luyện thêm khả năng đặc biệt cho mình để thích ứng với chiến trường khi cần. Thông thường, an ninh lãnh thổ được giao cho những đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và các Sư Đoàn Bộ Binh hỗ trợ nhau trong vùng trách nhiệm được phân chia. Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng Tổng Trừ Bị, thiện chiến, có tính cơ động cao. Ta dùng đến họ trong những cuộc hành quân lớn càn quét địch hay giải tỏa các đơn vị bạn bị địch bao vây mà các đơn vị đồn trú trong vùng trách nhiệm không tự giải tỏa được. Xong, họ lại trở về căn cứ để dưỡng quân. Nhưng về sau, các đơn vị này được xử dụng như Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, bị cầm chân tại một nơi nào đó, không thể di chuyển đi nơi khác được. Vì thế sau này, khi một nơi nào bị nguy ngập xin cầu viện, ta không còn đơn vị Tổng Trừ Bị nào rảnh tay để đến giải cứu họ. Dường như cấp trên ngại, không muốn lực lượng TổngTrừ Bị đồn trú tại Thủ Đô hay vùng phụ cận quá đông nên chỉ có một đơn vị nhỏ Nhảy Dù đóng trong vườn Tao Đàn để giử an ninh phía sau Dinh Độc Lập.

Tôi hỏi:

– Nếu Đệ Nhất Cộng Hoà còn tồn tại thì tình hình Miền Nam sau này có tốt hơn thời Đệ Nhị Cộng Hòa không?

Ông trả lời:

– Kết cục như thế nào mình không thể biết được, nhưng chắc chắn sẽ khá hơn thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Thời Tổng Thống Diệm, chính quyền Miền Nam có nhiều tự chủ. Tổng Thống Diệm luôn chủ trương tránh lệ thuộc nước ngoài càng nhiều càng tốt, vì thế có thể làm được những gì mình thấy ích nước lợi dân. Đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà, càng ngày càng bị lệ thuộc vào Mỹ quá nặng. Mình làm những gì có lợi cho mình nhưng không có lợi cho Mỹ đều bị ngăn cản. Như hòa đàm Paris, vận mạng của nước mình nhưng hầu như do họ toàn quyền quyết định để có lợi cho chính sách của họ lúc bấy giờ.

Tôi nói:

– Sau 30-4-75, có một số người cho rằng anh ra đi như thế là đào ngũ, anh nghĩ thế nào về lời phê bình này?

Ông trả lời:

– Bây giờ anh không cãi chính làm gì vì ai có thẩm quyền phân xử đúng sai? Nhưng trong thâm tâm anh, anh tự cho việc mình làm không có gì sai. Về sau này, mặc dù đang tại chức nhưng anh không còn quyền hành gì cả. Theo hệ thống, các Tư Lệnh Vùng, Sư Đoàn muốn bàn việc gì phải trình bày cho anh biết, nếu vấn đề nào trong phạm vi quyền hạn của anh, anh sẽ giải quyết. Khi nào vượt quá quyền hạn của anh, anh sẽ trình lên Tổng Thống. Nhưng sau này các Tư Lệnh vùng hay Sư Đoàn thường muốn bàn công việc trực tiếp với Tổng Thống, Bộ Tổng Tham Mưu chỉ là cái trạm để họ liên lạc theo đúng thủ tục hệ thống quân giai. Không biết có phải do lệnh của Tổng Thống hay không, nhưng các vùng đều làm như thế. Thấy mình thừa thãi nên anh làm đơn xin về hưu 5 hay 6 lần đều bị từ chối.

Ông Hương biết rõ chuyện này nên khi Ông thay thế Tổng Thống Thiệu, anh nộp đơn xin về hưu được Ông chấp thuận ngay. Ông Dương văn Minh có mời anh đến nhà để bàn công việc nhưng anh không đến. Sau đó Ông đến nhà anh và bảo chuyện cũ bỏ qua đi, bây giờ chúng ta nên chung sức với nhau để cứu vãn tình hình đang nguy ngập nhưng anh từ chối. Theo anh, mấy cơ hội đã lọt vào tay để cho Ông chứng tỏ khả năng lãnh đạo của mình nhưng đều không làm nên tích sự gì, nay lại thành lập Chính Phủ Liên Hiệp với Cộng Sản, một điều mà anh chưa bao giờ nghĩ tới chuyện tham gia.

Sau khi được Tổng Thống Hương chấp thuận, anh chuẩn bị ra đi, để giấy giải ngũ trên bàn làm việc, thay đồ dân sự ra Đệ Thât Hạm Đội.

Trong buổi tang lễ của Tướng Cao văn Viên, cựu Đại Tá Hoàng Ngọc Lung lên đọc điếu văn có tiết lộ một tin ít người biết: Sau khi tướng Viên từ chối hợp tác, Ông Minh có ý định cho người ám sát Ông.

Trên chuyến bay từ Mỹ trở về Úc, ôn lại những kỷ niệm vui buôn khi gặp lại bạn bè, người thân sau một thời gian dài sau cuộc sau cuộc đổi đời, trật tự trong xã hội Miền Nam hoàn toàn bị đảo lộn. Danh vọng càng cao, tiền bạc càng nhiều, đau khổ, thất vọng càng tăng, càng nhớ lại quá khứ, càng nuối tiếc. Từ “Thằng” lên “Ông”, từ “Ông” xuống “Thằng” chỉ trong một sớm một chiều, nhất là giới Sĩ Quan QLVNCH, dù muốn hay không đều phải nếm mùi.

Nhớ lại bản thân mình trước kia, khi Đại Tướng đến nơi nào chủ tọa buổi lễ hay tiếp rước quan khách, mình cùng Ban Quân Nhạc phải có mặt tại địa điểm ít nhất 30 phút để chuẩn bị chào đón. Khi tiệc tùng tiếp đãi quan khách tại Câu Lạc Bộ Tổng Tham Mưu, mình cùng toán nhẹ giúp vui suốt buổi tiệc.

Trong chuyến đi vừa qua thì trái lại. Vừa xuống xe đã có Đại Tướng chờ sẵn. Về nhà Đại Tướng dọn cơm cho ăn. Thấy mặc áo dơ, Đại Tướng giặt cho sạch sẽ. Đó cũng là một trong những cảnh đổi đời.

Ngày 30-4-75, tất cả quân nhân chúng ta bị bắt buộc phải buông súng, bỏ áo trận vì tuân lệnh cấp trên. Tuy nhiên, trong lòng chúng ta đều ấm ức vì chính quyền đang điều hành đất nước lúc bấy giờ không phải là chính quyền của chúng ta, vì không do chúng ta trực tiếp bầu chọn. Một chính quyền không hợp hiến do áp lực của ngoại bang thành lập vội vã cưỡng ép những người chống Cộng Miền Nam phải đầu hàng Cộng Sản càng sớm càng tốt hầu xóa sổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế trong lòng mỗi người chúng ta đều có chung ý nghĩ: Mình không phải là một người lính đã đầu hàng hay thua trận.

Đáng lý ra chúng ta bị thiệt hại nặng hay mất một số Tỉnh Thành trong dịp Tết Mậu Thân. Chúng ta tin tưởng vào lệnh ngưng bắn được ký kết coi như giữa hai quốc gia để dân chúng Miền Nam được an tâm, hưởng trọn niềm vui trong ngày Lễ Cổ Truyền lớn nhất của dân tộc. Quá tin vào những gì đã được ký kết, cấp chỉ huy các đơn vị nới lỏng lệnh cấm trại, linh động cho anh em binh sĩ thay phiên nhau về nhà chung vui với gia đình. Trái lại với bản tính lọc lừa cố hữu, Hồ Chí Minh cùng tất cả giới lãnh đạo Miền Bắc đã tính trước, đánh đổi thể diện một Quốc Gia để lấy yếu tố bất ngờ mong chiếm trọn Miền Nam rồi sau đó sẽ đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền láo khoét cố hữu để khỏa lấp bội ước và đánh lừa dư luận Quốc Tế. Nhưng “Nhờ trời có mắt, kẻ gian bị nạn”. Một điều họ không ngờ tới là họ đã đánh giá sai tinh thần chiến đấu và chống Cộng quyết liệt của binh sĩ và dân chúng Miền Nam, nên ước mơ bấy lâu nay “Miền Nam luôn trong tim Bác” mà thành quả Bác nhận được là:

“Ngoài tiền tuyến, Bác xua bao vạn sinh linh vào vòng binh lửa,

Ở hậu phương, Bác nằm ngửa phơi cũ cải trong cỗ quan tài”.

Người Lính Kèn (SA)

Ghi chú: Bài trên đây được ghi lại theo lời người kể, còn đúng sai thế nào tùy cảm nhận của từng người đọc.


Hai Hình Ảnh – Một Cuộc Đời

Hôm ấy, chỉ một ngày sau cái ngày tang thương của đất nước, toàn bộ sinh hoạt trong Tổng Y Viện Cộng Hoà nhốn nháo hẳn lên. Từng đoàn người hung bạo với AK trong tay tủa vào lùng sục đuổi xua các thương binh đang nằm điều trị.
Đoàn trọng Hiếu

1. Chuyện của Dương
Hôm ấy, chỉ một ngày sau cái ngày tang thương của đất nước, toàn bộ sinh hoạt trong Tổng Y Viện Cộng Hoà nhốn nháo hẳn lên. Từng đoàn người hung bạo với AK trong tay tủa vào lùng sục đuổi xua các thương binh đang nằm điều trị. Nhiều tràng đạn AK vang lên từ những dãy nhà trong khu Tổng Y Viện

– Đm chúng mày có ra không không ông bắn chết hết bây giờ.
Nhiều thương binh vừa mới giải phẫu hôm qua hay vài ngày trước đó còn đang mê man trong phòng hồi sinh đã bị lật xuống khỏi giường:

– Đm, thằng này mày ngoan cố hả? Ông bắn bỏ mẹ bây giờ!
Toàn là giọng Bắc, giọng miền Bắc CS, nghe khô khốc như những tràng AK được chúng bắn lên trời để thị uy. Tiếng rên la vì đau đớn, tiếng ơi ới gọi nhau tìm sự giúp đỡ của những người đồng cảnh ngộ vang lên khắp nơi. Từng đoàn thương binh kẻ lê, người lết kéo nhau đi ra phía cổng trong nỗi hoang mang lo sợ tột cùng. Có người không chịu nổi đã chết ngay khi vừa bò ra tới gần cổng bệnh viện. Máu mủ bông băng loang lổ đầy trên mặt đường.

Vào nằm trong Cộng Hoà cũng đã mấy tháng nay, vết thương nơi cái chân phải bị cưa cũng còn đang mưng mủ và rỉ máu, Dương vội quơ lấy chiếc nạng rồi cùng nhiều anh em dìu nhau lết ra phía cổng. Phía sau là bọn bộ đội CS điên loạn như con thú say mồi hối thúc la hét.

Những mũi súng lạnh đến rợn người được chĩa vào lưng hối thúc những người bất hạnh, cũng như những viên đạn sẵn sàng ghim vào lưng ai đó nếu có hành động phản kháng. Khi ngang qua một khu điều trị, thấy một cái chân giả của ai, có vết thương hơi gống Dương, có lẽ vì quá sợ hãi bị rớt ra mà cũng không dám dừng lại để gắn vào. Dương quơ vội gắn vào chân mình rồi tiếp tục lê lết cà nhắc bước đi.

Ra đến cổng chính của Tổng Y Viện Cộng Hoà, một hình ảnh thật thương tâm đập vào mắt Dương. Hàng ngàn anh em thương binh nằm la liệt trên lề đường hoang mang không biết phải làm gì, đi đâu, về đâu trong tình trạng khốn khổ như thế này? Nhưng một hình ảnh cũng lại thật vô cùng cảm động và có lẽ là hình ảnh cảm động nhất trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh “Bảo Quốc An Dân”, những người dân chung quanh TYVCH là những người ở lại bên cạnh anh em vào giờ thứ 25. Họ phóng sang phía cổng dìu cõng những anh em không đi nổi, săn sóc băng bó lại vết thương cho những anh em đang chảy máu, uỷ lạo tinh thần qua những ly nước điếu thuốc, dốc những đồng tiền cuối cùng còn có được để anh em có chút lộ phí đón xe về quê.

Tôi không thể nào quên những tình cảm biểu lộ tình dân tộc nghĩ đồng bào trong khu vực này. Bọn Việt Cộng sẽ phải trả lời trước lịch sử về hành động dã man khi đuổi anh em thương binh VNCH ra khỏi các quân y viện sau ngày Miền Nam bị cưỡng chiếm.
Một cô gái dúi vội vào tay Dương một ít tiền,

– Anh cho em gởi ít tiền. Chúc anh về bình yên.
Chưa kịp có lời cám ơn thì cô đã chạy vù sang phía bên kia cổng. Dương đứng tần ngần ngó theo miệng lẩm bẩm lời cám ơn mà nước mắt trào ra. Đang đứng thẫn thờ thì một thanh niên tấp xe Honda vào hỏi,

– Anh về đâu để em chở anh về.
Thôi thì “thắng về nội, thối về ngoại”, ý nghĩ nơi đầu tiên mà chàng phải trở về đó là Chơn Thành nơi có người vợ chỉ vừa mới cưới được hơn một tháng thì chàng bị thương,

– Tôi về Chơn Thành – Bình Long, anh cho tôi ra ngã tư Bình Phước.
Leo lên xe nhờ có chiếc chân giả lượm được nên Dương ngồi cũng thăng bằng. Gia tài của chàng bây giờ chỉ còn có cặp nạng và thêm chiếc chân giả hơi ngắn không đúng kích cỡ, cộng với số tiền cô gái dúi cho cuộn tròn trong túi áo. Đến ngã tư Bình Phước chàng móc tiền ra đưa người thanh niên chạy Honda nhưng anh ta từ chối,

– Em tiếc không chở anh về Chơn Thành được vì quá xa. Thôi em phải về để chở anh em khác.
Nói xong anh ta quay ngoắt chiếc xe tống mạnh ga ngược về hướng Sài Gòn. Thì ra cuộn tiền là năm tờ giấy hai trăm, một ngàn đồng số tiền gần tương đương 1/10 tiền lương hạ sĩ của chàng. Đối vớ cô gái thì đây là số tiền khá lớn. Vậy mà cô ta dúi vào tay mình một cách thản nhiên như người ta cho một đứa bé một cục kẹo. Mà cô ta chẳng phải chỉ cho riêng mình chí, ít ra thì cũng thêm vài người nữa. Dương ngẩn ngơ không tìm được câu trả lời. Tại sao cô gái này lại tốt như vậy?

Đường xá thật vắng vẻ, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe gắn máy đèo hai ba người hay chở đầy đồ đạc chạy về hướng Bình Dương.